Họ tên Khai sinh : Đỗ văn Luyến có các bút danh : Đỗ Hương Thanh, Đỗ Hồng Minh Ngọc, Cẩm Xuân. Quê quán : Xuân Sơn- Đông Triều- Quảng Ninh. Nơi công tác : Thượng tá Công An Thành phố Uông Bí. Hội viên Hội VHNT Tỉnh Quảng Ninh. Các Tác phẩm : In chung : Hương Sắc Quỳnh Lâm – Núi Canh- Tình Quê – Hương Sen- Đất Chiến khu xưa- Tuyển Thơ- Truyện Ngắn- Ký thị xã Uông Bí 45 năm- Đất thương trường- Hương đất chiến khu. In riêng : Nghe hát Sông Quê ( Hội VHNT Quảng Ninh 2005) Đôi bờ Sông Trăng ( Nxb HNV 2009) Làng bên sông (Nxb HNV 2010). Tiếng ve mùa phượng( Nxb HNV 2011). Gió reo ngoài bãi (( Nxb HNV 2011). Giải thưởng : Giải thưởng Văn Nghệ Hạ Long lần thứ 7 (2006-2010) cho tập thơ “Đôi bờ sông trăng”. Xin giới thiệu 5 bài thơ trong “ Gió reo ngoài bãi” của Ông.
Nguyễn Chinh Viễn (gt)
1 - TRĂNG BIỂN NHA TRANG :
Những đêm trăng trước biển Nha Trang Từng lớp sóng nô đùa bãi cát Quầng sáng lan chân trời bát ngát Vẻ dịu hiền lắng lại lòng sâu
Anh mơ màng trong bóng thuyền câu Gió trùng khơi mang theo vị mặn Cánh hải âu bay vào chiều thẳm Gợi nhớ tháng ngày anh bên em...
Ánh trăng khuya thắp sáng đôi miền Người chia ngả buồn thương vời vợi Giữa hai ta,tương tư là gạch nối Hóa những câu thơ ru vỗ giấc mộng vàng...
Mình anh ngắm trăng trước biển Nha Trang!
2 – TIỄN NGƯỜI ĐI BIÊN GIỚI
Đêm nay các anh xa Hà Nội Để lại sau lưng cả phố phường Biên giới mùa xuân hoa nở đẹp Hồn xanh vời vợi nỗi nhớ thương
Các anh đến vùng cao mây phủ Bước giữa bản mờ sương, nghe chim hót rừng ngàn Các anh đến nơi còn súng nổ Mỗi chặng đường vượt gian khổ, nguy nan
Nhiệm vụ đang chờ các anh đi nhé Rừng núi xa xôi tha thiết gọi bao lời Người chiến sĩ chẳng bao giờ run sợ Khi Tổ quốc cần, dù phải máu sương rơi !
3- TỪ BIÊN CƯƠNG KHÓI LỬA
Mới hôm nào ta còn nói với nhau Về “Là thư viết từ vùng biển mặn...” Trời biên giới chiều nay thăm thẳm Tôi mơ trùng khơi sóng xô bờ
Phút gặp nhau buổi ấy tình cờ Bỗng gần gũi tấm lòng hai đứa Ta tìm thấy từ trong khói lửa Có khoảng yên bình giao cảm của hồn xanh
Nhìn ngọn đồi mây gió vờn quanh Những sắc áo chàm gợi niềm thương mến Đời chiến sĩ ắp đầy kỷ niệm Khẩu súng, trang thơ theo suốt dặm trường
Tháng ngày này ở phía tiền phương Mùa hạ đã về, ve ran ải Bắc Ta đang ở hai miền xa dằng dặc Như cánh chim trời nhưng chẳng thể gặp nhau...
Muốn gửi tới anh từ đất địa đầu Điệu hát lượn và trái đào xứ Lạng Qua lửa đạn, gương mặt người ngời sáng Cái chết cận kề, tiếng hát vẫn bay lên
Hoàng hôn buông, phố nhỏ lẫn vào đêm Ánh lử hồng thấp thoáng trên bản vắng Tôi thêm nhớ xứ dừa, nhớ bờ cát trắng Xin giữ trọn ân tình đằm thắm trong tim !
4- VỀ ĐẤT TỔ
Anh lại cùng em về đất Tổ Thăm nơi phát tích Đức vua Trần Khói hương dẫn lối vào cõi Phật Lòng người náo nức dưới trời xuân
Cánh én trao nghiêng trên thảm lúa Vườn cây thay lá bật mầm xanh Bên sân hàng vải bung hoa trắng Ríu rít chim ca, gió ru cành...
Thời gian ghi dấu từng bia đá Tháp cổ rêu phong đã phủ mờ Cháu con thành kính tìm nguồn cội Gặp tiếng người xưa gửi trong mơ
Quê mình gắn với bao truyền thuyết Nghĩa nhân Tam Tổ * đẹp muôn đời Đêm hội Quỳnh Lâm ** thơ mộng quá Mắt hồ lấp lánh ánh sao bơi
Chia tay mái ngói vành trăng khuyết Tương tư đằm thắm suốt dăm đường Người đi, kẻ ở chung niềm nhớ Chuông chùa điểm nhịp xuống chiều sương !
*Thiền phái Trúc Lâm do Đức Vua Phật Hoàng Trần Nhân Tông sáng lập. ** Chùa Quỳnh Lâm thuộc xã Tràn An Đông Triều Quảng Ninh
5- NGÃ BA ĐỒNG LỘC :
Khói hương bay nức nở cuối chiều Nơi mười trái tim vĩnh hằng yên nghỉ Ngã ba khốc liệt thời đánh Mỹ Đến bây giờ vẫn rầm rập bước chân
Bốn phương trời chỉ có mùa xuân Trên nấm mộ người không có tuổi Hố bom nằm kia cứ sâu vời vợi Bốn ba năm rồi...còn thăm thẳm nỗi đau
Núi Trọ Voi ,biêng biếc một màu Cây hát ru linh hồn bất tử Dòng máu trẻ trung viết nên trang sử Sừng sững tượng đài thế kỷ hai mươi
Mỗi chiếc gương com soi thấu muôn đời Hàng răng lược trinh nguyên chưa một lần được chải Hoa bồ kết hiện lên lung linh trong huyền thoại Thơm nghẹn ngào từng mái tóc xanh...
|