TNc: Nhà văn Nguyễn Khắc Phục vừa hoàn thanh vở kịch thơ Thế trận Bạch Đằng giang. Đây là vở thứ 70 do ông sáng tác. Nguyễn Khắc Phục với một khối lượng sáng tác đồ sộ tiểu thuyết, kịch bản phim, kịch, thơ và gần đây ông còn nhảy sang hội hoạ. Ông vừa gửi cho Trannhuong.com để công bố đầu tiên tác phẩm này. Từ hôm nay (23-6-2009) chúng tôi sẽ giới thiệu vở kịch này của ông
Kịch thơ 2009
Đằng Giang tự cổ huyết do hồng... Thám hoa Giang Văn Minh (1639)
Trong lịch sử đấu tranh và sinh tồn của mình, Việt Nam với tư cách một Đất Nước tự chủ, một Dân Tộc có truyền thống văn hóa lâu đời, trọng nghĩa, trung hậu, yêu tự do, khao khát hòa bình, bất khuất, kiên quyết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, quyền sống theo ý mình và không cho phép bất cứ thế lực hung bạo, nham hiểm nào làm nhục phẩm giá người Việt; đã tập hợp dưới ngọn cờ yêu nước của Ngô Vương Quyền làm nên chiến công vĩ đại Bạch Đằng Giang năm 938. Đây là một sự kiện hùng vỹ hiếm thấy, có ý nghĩa vô cùng trọng đại và cực kì điển hình, cho một quốc gia: 1- Luôn luôn phải đối mặt với những cuộc xâm lược trường kì của những kẻ thù hùng mạnh, không từ bất cứ thủ đoạn gian manh, ác độc nào miễn là có lợi cho tham vọng bất chính vô bờ bến của chúng. Các dân tộc bị chúng xâm lược càng nhân nhượng, càng nỗ lực tìm kiếm các cơ hội vãn hồi hòa khí, càng nhún nhường, chúng càng hung hăng, ngang ngược hơn. 2- Cùng lúc phải tập hợp sức mạnh của lòng yêu nước, đồng tâm nhất trí trên dưới, trăm họ cố kết với ý chí kiên quyết chống giặc ngoài, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của Dân Tộc trong lịch sử dựng nước và giữ nước. 3- Phải không ngừng cảnh giác với bọn nội phản, dù số lượng bọn chúng có thể đếm trên đầu ngón tay, những Kiều Công Tiễn (sau này là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống...), nhưng chúng rất nguy hiểm, bản tính chúng lại hết sức vô liêm sỉ, trâng tráo, sẵn sàng bán nước cầu vinh bằng mọi giá. Sự phản bội của chúng càng trở nên nghiêm trọng khi kẻ thù bên ngoài bôi mày vẽ mặt cho chúng bằng đủ thứ sơn phết lòe loẹt, biến chúng thành những “tên hề nguy hiểm”... Nắm chặt 3 điều cốt tử trên, Ngô Vương Quyền và nhân dân ta đã làm nên chiến thắng Bạch Đằng Giang, trận chung kết huy hoàng giữa Việt Nam với bọn xâm lược trên con đường đấu tranh chống Bắc thuộc, kéo dài 1.117 năm. Đó cũng chính là BIỂU TƯỢNG HÙNG VĨ VÀ SINH ĐỘNG NHẤT CỦA THẾ TRẬN BẠCH ĐẰNG GIANG! Ngô Quyền xứng đáng được tôn vinh “vua của các vị vua nước Nam” và vị tổ trung hưng của dân tộc như Phan Bội Châu lần đầu tiên đã nêu lên trong Việt Nam quốc sử khảo. Sau chiến thắng Bạch Đằng, đất nước bước vào thời kỳ xây dựng trên quy mô lớn, khôi phục quốc hiệu Vạn Xuân. Tại kinh đô Cổ Loa, Ngô Vương Quyền bước đầu tổ chức một triều chính độc lập đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục, có thể thấy được quy mô của đế vương. Sử gia Ngô Thì Sĩ đánh giá: Trận thắng trên sông Bạch Đằng là cơ sở cho việc khôi phục quốc thống. Những chiến công đời Đinh, Lê, Lý, Trần sau này còn nhờ vào uy danh lẫm liệt ấy để lại. Trận Bạch Đằng là vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu, há phải chỉ lẫy lừng ở một thời bấy giờ mà thôi đâu!”. Với nhận thức và cảm hứng như vậy, tôi đã dành toàn bộ sức lực, dốc hết gan ruột vào vở kịch thơ này. Có lẽ đây cũng sẽ là vở kịch cuối cùng trong cuộc đời viết kịch của tôi, vở thứ 70... Thiết tha cầu mong Quý Bạn đọc và chia sẻ.
Tháng 6 năm 2009. NKP
Giới thiệu sơ lược bối cảnh lịch sử
trong kịch thơ ‘Thế trận Bạch Đằng Giang’
Từ năm 907 ở Trung Hoa, nhà Đường sụp đổ, các tập đoàn cát cứ Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu thi nhau tranh giành quyền lực ( sử gọi là đời Ngũ Quí hay là Ngũ Đại). Nước ta lúc đó nhà Đường đổi thành Tĩnh Hải quân, Tiết độ sứ Độc Cô Tổn mới sang cai trị rất độc ác, mất lòng người, bị gọi là Ngục Thượng thư (thượng thư ác). Khúc Thừa Dụ, khi đó là Hào trưởng Chu Diên, được dân chúng ủng hộ, đã tiến quân ra chiếm đóng phủ thành Đại La (Tống Bình cũ - Hà Nội), tự xưng là Tiết độ sứ. Khúc Thừa Dụ được coi là người đặt cơ sở cho nền độc lập dân tộc Việt sau gần 1.000 năm bị đô hộ. Khúc Thừa Dụ mất, Khúc Hạo (con trai) và Khúc Thừa Mỹ (cháu) lần lượt lên nắm quyền. Năm Quí Mùi 923, vua Nam Hán Lưu Cung sai Lý Khắc Chính đem quân sang đánh thành Đại La, bắt Khúc Thừa Mỹ mang về Phiên Ngung, sai Lý Tiến sang làm thứ sử cùng với Lý Khắc Chính. Năm Tân Mão 931, Dương Đình Nghệ là tướng của Khúc Hạo ngày trước nổi lên, đánh đuổi bọn Lý Khắc Chính và Lý Tiến đi, rồi tự xưng làm Tiết độ sứ. Vua Nam Hán sai Thừa chỉ Trần Bảo mang quân sang xâm lược. Dương Đình Nghệ ra lệnh mở toang cửa thành Đại La, đánh thắng giặc và chém đầu Trần Bảo. Được gần 7 năm, Dương Đình Nghệ bị nha tướng ( cũng là con nuôi) Kiều Công Tiễn giết hại để cướp quyền. Ngô Quyền vừa là con rể, vừa là một bộ tướng của Dương Đình Nghệ, lúc ấy đang trấn giữ Châu Ái, tỏ rõ là người có tài đức. Năm 938, ông tập hợp lực lượng hào kiệt trong nước tiến ra bắc, hạ thành Đại La, tiêu diệt Kiều Công Tiễn. Trong số anh hùng hào kiệt dưới cờ Ngô Quyền có rất nhiều danh tướng: Đinh Công Trứ ( cha Đinh Bộ Lĩnh), Đỗ Cảnh Thạc, Phạm Phòng Át, Ngô Xương Ngập (con trai Ngô Quyền), Dương Tam Kha (con trai Dương Đình Nghệ), đặc biệt hơn, có cả Kiều Công Hãng (cháu nội của tên phản quốc Kiều Công Tiễn)... Sau chiến công Bạch Đằng Giang, mùa xuân năm 939, ông xưng là Ngô Vương (tức là Tiền Ngô Vương), đóng đô ở Cổ Loa (Hà Nội ngày nay), lấy lại quốc hiệu Vạn Xuân. Năm 944, ông qua đời, thọ 47 tuổi. Sử sách gọi ông là Tiền Ngô Vương. Sách Thiền Uyển Tập Anh gọi ông là Ngô Thuận Đế, có lẽ chỉ là cách nói tôn lên vì đương thời ông chưa từng xưng đế.
Thế trận Bạch Đằng Giang Kịch thơ
Nhân vật (theo thứ tự ra sân khấu)
Ngô Quyền Cu Ngơ – gia nhân của Ngô Quyền Ngâu – hầu gái của Dương Nữ Dương Nữ - con gái Dương Đình Nghệ Kiều Công Tiễn – con nuôi Dương Đình Nghệ Dương Đình Nghệ Dương Tam Kha – con trai Dương Đình Nghệ Khổng Lang Trung – y quan trong sứ bộ Nam Hán Kiều Chuẩn – con trai Kiều Công Tiễn Kiều Thuận – cháu nội Kiều Công Tiễn Kiều Công Hãng – cháu nội Kiều Công Tiễn Lý Tiến – Thứ sử Giao Châu Vạn Vương Hoằng Thao – con trai vua Nam Hán Các hào kiệt, nghĩa sĩ: Đinh Công Trứ Đỗ Cảnh Thạc Phạm Phòng Át Ngô Xương Ngập Nguyễn Tất Tố Vị lão thành Dân trăm họ Ái châu & Đại La Quân sĩ & Những người khác
Đại bàng bay cùng trời càng nhớ tổ Người đi bốn bể quay về làng Ta là con của nước Nam Bạch Đằng Giang, Bạch Đằng Giang Không chờ, không khóc, không van Một dân tộc – một giang san bao đời Chỉ toan đứng giữa đất trời Được thương yêu, được làm người tự do Được thanh bình, được ấm no Mà nghìn năm đến bây giờ chưa an Bạch Đằng Giang, Bạch Đằng Giang Ròng ròng máu đổ, hàng hàng lệ rơi Đứng lên, gào thét váng trời Vạn Xuân – tỉnh mộng không thôi thét gào... Ngô Quyền dáng vóc khôi vĩ, gương mặt trầm tư, đứng lặng bên dòng Hát Giang (sông Đáy), mắt đăm đăm nhìn về phía xa. Chàng sinh năm 898, quê Đường Lâm, con trai vị châu mục Ngô Mân. Cha chết, chàng tìm vào châu Ái... Ngô Quyền - Mùa xuân đến rồi chăng? Ta nhằm Phương Nam Mà sao ngọn Bắc Phong vẫn thổi lạnh sống lưng? Hát Giang, Hát Giang Hỡi dòng sông bi tráng của ta Mỗi con nước xiết sơn hà quặn đau Non về đâu, nước về đâu Mà trông bốn phía một màu tang thương? Nôn nao cất bước tìm đường Mà sao ngọn gió bắc phương lạnh thấu xương... (giật mình nghe tiếng hát của những cô gái chèo đò dọc trên Hát Giang) Tiếng hát đò dọc - Cầu Ba Trăng thênh thênh gió mát Đồng Ba Trăng bát ngát lúa ngô Hát Giang sóng cứ xô bờ Nghìn năm máu đỏ chưa mờ dấu thiêng Năm canh khắc khoải nỗi niềm Nghe ra tiếng nấc triền miên vỗ bờ ... Ngô Quyền xúc động mạnh mẽ - Ta vừa nghe những người chèo đò dọc hát gì dưới dòng sông kia vậy? Lạ thật? Lạ thật? Sông tên là sông Hát Mà sao sóng xô bờ hóa ra tiếng nấc? Nghìn năm xưa Nghìn năm xưa... Tiếng hát đò dọc - Hát Giang không phải sông đâu Đừng đem sào cắm nông sâu mà lường Hát Giang mấy khúc đoạn trường Phù sa đỏ máu khóc thương Vua Bà Hai vai nợ nước thù nhà Sống vinh thác hiển, sơn hà ghi ơn Dạy con cháu chí quật cường Đội trời đạp đất càng thương quê mình... Hỏi ai nỡ đành đoạn vô tình bước đi? Ngô Quyền tay nắm chặt đốc kiếm đeo bên lưng, giọng rung lên - Phải, chính oai linh của Hai Vua Bà vừa hiển thánh Mượn lời dân gian trong câu hát đò đưa Vầng trăng muộn, tiếng gà trưa Cũng canh cánh nỗi ngàn xưa gọi hồn Chính tại đây, cửa Hát Môn Hai Vua Bà tuẫn tiết Khi thế cùng lực kiệt Lũ đao phủ Phục Ba tàn độc Gieo nỗi thống hận “cột đồng Mã Viện” còn đây Dù ức vạn dân Giao Châu đã ném đá lấp đầy Vết ô nhục nghìn năm sau Nỗi đau còn nhức nhối Khiến ngọn Bắc Phong thổi lạnh sống lưng...
CẢNH 1 Cầu Ba Trăng... Ngơ hoảng hốt réo tên chủ - Cậu Quyền ơi, cậu Quyền ời... Ngô Quyền - Mày hò đò sông Cái à? Ngơ chạy tới, hổn hển - Cậu ơi, con cắn rơm cắn cỏ lạy cậu... Ngô Quyền ngạc nhiên - Giặc cướp đuổi mày, truy sát hay sao? Ngơ - Giặc cướp đuổi, con nào có hãi Chỉ cần nói tên con là ai, chúng đã vãi... ra quần... Ngô Quyền - Khẩu khí cu Ngơ dạo này ghê nhỉ? Ngơ - Bẩm cậu Quyền, con là ai, bẩm cậu? Ngô Quyền càng ngạc nhiên - Ơ hay, mày làm sao vậy? Ngơ - Con là ai, xin cậu cứ giả nhời? Ngô Quyền bật cười - Thì cả xứ Đường Lâm ai không biết cu Ngơ Quê Kẻ Mía Gia nhân trung thành của họ Ngô ta Ruột để ngoài da... Ngơ - Đấy nhá, tôi là ai, cậu Quyền tôi vừa xưng danh hộ Có nhẽ nào gia nhân họ Ngô Đường Lâm lại làm ô danh chủ Sợ giặc cướp hay sao? Cu Ngơ tôi chẳng giấu gì trong làng ngoài chạ Bu tôi đẻ rơi sau đống rạ Tóc rối như tổ quạ Mặt nhăn như khỉ gió Nói giọng “con bo vang” Chỉ mỗi tội hơi nhiều hào khí Chả may gặp các em thôn nữ mắt liếc dao cau Cu Ngơ tôi... mặt đần như ngỗng ỉa... (quay lại) - Ối, ối, cậu Quyền ơi, xin cậu nhón tay làm phúc giúp con... Ngô Quyền - Lại còn chuyện gì nữa? Ngơ - Bẩm cậu, xin cậu tạm lánh khỏi đây... Ngô Quyền - Ta không hiểu? Ngơ chỉ tay xuống bờ sông - Bẩm cậu, kia kìa Kia kìa cái giống kia kìa Đánh hơi một cái, kia kìa... Ngơ say... Ngô Quyền - Ơ hay Ta có thấy gì đâu ngoài một chiếc đò dọc cỏn con vừa cập bến Ba Trăng? Ngơ - Bẩm cậu, cậu thấy cái to là cái to Con thấy cái nhỏ cứ tưởng là cái to... Ngô Quyền - To to nhỏ nhỏ là thế nào? Ngơ - Cậu thấy sơn hà xã tắc, đại nghiệp là to Mắt con gái lúng liếng lá dăm Bé như cái tăm Con lại thấy nó nhớn Nó lúng liếng Nó khụng khiệng Nó ám con Nó bắt con phải lòng Nó bắt con... tòng nó Làm chồng làm vợ Đẻ sòn sòn Một lũ con Nhớn lên Tòng chinh Theo cậu Chứ chả nhẽ cậu đánh giặc một mình Mưu nghiệp nhớn ắt phải từ việc nhỏ Bẩm cậu, lẽ đời nhỏ nhỏ to to là thế! Thế thì con mới cắn cỏ lậy cậu tạm lánh cho con nhờ... Ngô Quyền - Song thân ta khuất núi vừa mới đoạn tang Nước mắt khóc cha mẹ chưa khô, vội từ giã Đường Lâm Lặn lội tìm vào Châu Ái Ruột nóng như lửa, đầu rối bòng bong Vội trách ngươi tai quái Hóa ra những điều nhỏ to tưởng là lải nhải Lại nhắc ta đừng quên Lo việc lớn không có trăm họ không nên? Ngơ - Bẩm cậu, con là phận tôi đòi Văn thì dốt vũ thì dát Dám đâu thưa thốt Nhưng đêm qua đang ngon giấc mơ màng Con thấy cậu cháu mình sẽ gặp duyên kì ngộ Ba Trăng... Ngô Quyền - Đúng là rồng leo cây nghệ Thôi, ta cũng chẳng chấp chi... Ngô Quyền bỏ đi... Ngơ nhìn theo, thở phào nhẹ nhõm - Cậu ơi, cậu là phượng là rồng Con mà đứng bên cậu thì thiên hạ nhìn con thành cú thành cáo Có nước con tìm đường tìm nẻo... (giật mình thấy Ngâu từ dưới bến đi lên, hắng giọng) - Trai Kẻ Mía gặp gái Ba Trăng Như ngọn cau đâm thẳng giàn trầu không Ngâu - Trăng ba bốn đường trăng Mía năm bảy giống Chẳng hay quân tử thuộc giống mía sâu mía sượng Nấu lên thành bẫy mật chết ruồi? Ngơ - Trai Kẻ Mía, gan cóc tía Đường Lâm Chó còn ngáp được ruồi, huống chi bẫy mật Anh đây dòng hào kiệt Chỉ ham giăng bẫy tình bắt con gái Ba Trăng Ngâu - Gặp nhau đây một duyên hai nợ Chỉ sợ chàng không bẫy nổi gái Ba Trăng Ngơ - Cô em ơi, bẫy võ hay bẫy văn? Ngâu - Bẫy võ dễ qua bẫy văn khó thoát Chàng thắng cuộc em theo chàng sửa túi nâng khăn Chàng mà thua chỉ xin chàng ăn... tát! Ngơ vênh mặt - Tay tiên mà tát má này Thử xem giời đất đảo quay thế nào Ngâu - Quân tử một nhời đinh đóng cột Tơ hồng cả mớ quấn bụi tre gộc Em hỏi chàng non nước mình quốc hiệu là sao? Ngơ - Ối, tưởng bẫy văn ghê gớm thế nào Tên nước ta là An Nam Đô hộ phủ... Ngâu giang thẳng cánh tát vào mặt Ngơ, nghiến răng khinh bỉ - Trông đỏ tưởng chín Vóc đàn ông đàn ang hóa ra đồ bị thịt Ngơ - Ơ hay, mấy chú khách ở thành Đại La Lên Đường Lâm bán lụa Vẫn gọi ta là dân An Nam Sao nàng lại tát ta gẫy cả răng Tóe cả máu mồm máu mũi? Ngâu - An Nam, An Nam... An Nam là xứ dân khiếp nhược mà chịu yên Họ gọi thế, đồ ngu không biết nhục Cách đây ba trăm năm Đức Nam Đế đánh tan giặc Lương Vạn Xuân thành quốc hiệu nước ta từ đấy Vạn Xuân, Vạn Xuân Găm vào tai, gài vào óc, bọc vào tim Bảy nổi ba chìm Vạn Xuân Vạn Phúc... Ngơ bưng mặt - Một cái tát, em ơi Một cái tát thời cho anh uống vạn bát thuốc tiên Ngâu hoảng hốt khi Dương Nữ xuất hiện - Lậy chị tha tội... Ngơ xấu hổ - Bẩm tiểu thư, đầy tớ vô phép... Dương Nữ - Tôi thấy hết cả rồi Không ai phải đôi hồi Chào vị khách Kẻ Mía Dù thua trong bẫy văn Vẫn ra người trượng nghĩa Gió Ba Trăng mát mẻ Nước Ba Trăng mênh mang... (quay lại Ngâu) - Kìa, còn đợi gì mà không mời khách xuống đò... Ngâu và Ngơ bỏ đi... Ngô Quyền xuất hiện - Chứng kiến cảnh chị em nàng dạy dỗ gia nhân Kẻ Mía Ta hổ thẹn vô cùng! Dương Nữ - Người hổ thẹn vì gia nhân của người không nhớ quốc hiệu Vạn Xuân? Ngô Quyền - Đúng vậy Bất kể nàng là ai Ta xin vái tạ lỗi! Dương Nữ - Người không có lỗi với tôi! Ngô Quyền - Ta có lỗi với ai? Dương Nữ - Người đắc tội với tiền nhân! Ngô Quyền giật mình - Ai đang hặc tội ta đấy? Dương Nữ - Hai Vua Bà một trận phong ba máu chảy thành sông mùa tử chiến Triệu Trinh Nương cưỡi sóng chém kình ngư trên biển Triệu Việt Vương đầm Dạ Trạch trổ oai thần Mai Hắc Đế tế cờ trên Rú Đụn Bố Cái Đại Vương oanh liệt xứ Đường Lâm Lý Nam Đế dựng non nước Vạn Xuân... Há bấy nhiêu bậc tiền nhân hặc tội có nghe chăng? Ngô Quyền bàng hoàng - Nàng là ai? Dương Nữ - Là người chèo đò dọc trên sông Hát Giời run rủi gặp khách bên nhịp Ba Trăng Nhìn đầy tớ biết tâm địa bề trên Dám hỏi người, quý tính cao danh? Ngô Quyền - Ta họ Ngô, tên Quyền, quê quán Đường Lâm Có việc lớn phải tìm vào châu Ái! Dương Nữ mừng rỡ - Hóa ra chàng tìm vào Châu Ái Vừa nghe chàng thốt ra Sao tự nhiên tim ta đập mạnh Không biết có điềm gì xui khiến hay chăng? Ngô Quyền lẩm bẩm - Ta đâu còn trai tơ đôi mươi mười tám Ta đã có vợ có con để lại quê nhà Cất bước vào Ái châu tìm Minh Chúa Tưởng mọi nỗi khát khao những bóng hình mỹ nữ Không mảy may làm xao động nổi ta Chợt gặp người con gái bên cầu Sao đầu gối ta như chùng lại Sao mắt ta mê mải Đuổi theo những sắc mầu thăm thẳm dòng sâu Lao xao sóng vỗ... Dương Nữ rạo rực - Sông Hát Giang bao giờ cạn nước Núi Tản Viên cây cỏ đương xuân Hỡi người gặp gỡ Ba Trăng Biết đâu duyên nợ trăm năm mà tìm? Ngô Quyền họa theo - Ai đi hái mớ tóc tiên Sợi dài gói gió sợi mềm buộc sương Hỡi ai dệt tấm vô thường Thêu nên giấc mộng bên dòng sông Mơ Yêu trong cuộn sóng sơn hà Tình riêng đâu dám nhạt nhòa thù chung? Dương Nữ đáp lại - Gái thuyền quyên, trai anh hùng Há vì chăn gối buộc chân Phượng Hoàng Xin Người lấy lại giang san Rửa xong mối hận Hát Giang thủa nào Bấy giờ bên đĩa dầu hao Em ru cho đấng anh hào ngủ ngon... Ngô Quyền bàng hoàng - Nàng ơi, số kiếp dân ta cay đắng lắm Bắc thuộc nghìn năm đằng đẵng Sống không ra hồn người Chết chẳng được thành ma Vật vờ như bầy qủy nhập tràng trong bóng tối Không thuộc về đâu, cả âm phủ lẫn trần gian Cứ lang thang giữa hai bờ thực ảo Ta phải đi tìm giông bão Thay trời đổi đất, dựng quốc thống nước Nam Ta đã lỡ hẹn với tổ tiên trăm năm, nghìn năm Ta không thể vì tình riêng mà đắm đuối Bắt giông tố ngủ yên trong nệm ấm chăn êm Không Bão phải gầm lên nổ tung cột đồng nhục nhã Ta đã chui lên từ đáy huyệt nhuốc nhơ Chúng muốn chôn ta Giữa mê cung những dinh thự, tước phong Nhắm mắt ngủ yên trong tay gái đẹp Mềm môi, say lướt khướt rượu ngon Nghe rót vào tai những lời đường mật Của những kẻ tanh lòng coi ta như súc vật Ta phải đi, nổi trận bão cuối cùng Mỗi dòng sông phải nhớ hận Hát Giang Mỗi tấc đất phải nuôi chí Vạn Xuân Mỗi bụi tre phải hóa tre Thánh Gióng Mỗi tình riêng phải rực lửa anh hùng Đưa trăm họ thoát khỏi kiếp nhập tràng Được kiêu hãnh gọi tên mình: Dân Việt! Dương Nữ họa theo - Hỡi tráng sĩ Xin chàng nuôi hùng chí Hỡi dòng sông Hát Giang Muôn lớp sóng hãy sôi lên Góp thành bão tay chàng vung lưỡi kiếm Cả giang sơn thao thức mấy nghìn đêm Đợi một giấc mơ thiêng Và em hát Ru chàng Hát Giang Đêm nay hãy vì ta mà thao thức Những xóm thôn đợi bão đến rì rầm Những áng mây đêm cũng đỏ rực cuồng phong Phòng the lạnh nghìn trùng dù xa cách Em đợi khúc khải hoàn Chàng quay về tổ ấm Cởi chiến bào, tháo khỏi lưng thanh kiếm Ngả xuống bên em, nghe em hát ru chàng... Ngô Quyền đối mặt với Dương Nữ - Hỡi người con gái Ba Trăng Duyên kì ngộ Hát Giang Sống để dạ chết ta mang Ta không muốn làm qủy nhập tràng Nổi ngay giông bão hóa thân kiếp người... Chợt tiếng trống, mõ dồn dập cấp báo vang lên. Tiếng vó ngựa dồn dập... Công Tiễn xuất hiện - Ta đuổi theo muội sắp gẫy cả bốn vó ngựa! Dương Nữ ngạc nhiên đượm vẻ lo lắng - Nghĩa huynh, cha già khó ở chăng? Công Tiễn - Muội phải theo ta về ngay, khắc biết... Dương Nữ ngập ngừng nhìn Ngô Quyền - Nhưng... Công Tiễn rút ngay kiếm, hăm dọa - Người này muốn gì? Biết ta là ai không? Dám sàm sỡ với hiền muội của ta chăng? Ngơ lao tới, tay cầm cây mía đứng chắn giữa Ngô Quyền và Công Tiễn - Không được hỗn láo với chủ ta! Công Tiễn múa kiếm, Ngơ hai tay giơ cây mía lên đỡ - Đồ khốn, dám làm bẩn lưỡi kiếm của ta ư? Công Tiễn vung kiếm. Ngơ vờn múa, trong hai tay còn lại hai khúc mía vạt nhọn, biến thành hai mũi dáo sắc nhọn. Ngơ lẻn ra sau, dí hai mũi dáo vào lưng Công Tiễn - Một thân mía xanh thành hai mũi dáo Ngọt với kẻ biết điều, sắc với lũ ngông nghênh Ngô Quyền cau mày - Vô lễ, lui ngay... Dương Nữ vội vã nói với Công Tiễn - Xin nghĩa huynh bớt nóng, chỉ là chuyện gặp tình cờ trên bến Ba Trăng (quay lại Ngô Quyền) - Chắc gia cảnh nhà tôi có tai biến bất thường Nên anh tôi có phần thất thố Xin Người bỏ quá... Ngô Quyền - Ta cũng đoán vậy... Công Tiễn giận dữ tra kiếm vào vỏ - Nể mặt hiền muội, ta tha tội cho thầy trò ngươi ( bảo Dương Nữ) - Người ba đấng của ba loài Không rậm lời phí hơi Hiền nương ơi, ta phải đưa em về gấp... Kiều Công Tiễn và Dương Nữ bỏ đi... Ngơ sợ hãi quỳ xuống - Con lanh chanh như hành không muối Suýt làm cậu bẽ mặt! Ngô Quyền cười ha hả - Mày đáo để lắm Không hổ danh con cháu Bố Cái Đại Vương Đưa “mũi dáo” của mày cho ta gặm, khát quá! Hai thầy trò khoái trá chia nhau nhai mía... Ngơ - Cậu Quyền ơi, con đã kịp dò la Cái con bé tát con nổ đom đóm mắt, hóa ra... Ngô Quyền sốt ruột - Có gì nói mau lên, cà kê ta cắt lưỡi! Ngơ - Hóa ra nó tên Ngâu Mắt sắc dao cau Lưỡi như tép nhảy Đít vồng nồi đồng Vú căng quả bưởi Thẩy là thẩy lẩy Không trẩy cũng ngu Không bóp cũng tiếc... Ngô Quyền rút kiếm, nhứ đùa trên cổ Ngơ - Ta muốn biết chủ nó là ai? Nói ngay... Ngơ - Cậu phải lòng mặt chủ Con sờ vú đầy tớ Cứ cắt lưỡi con đi Nhưng để tay con bóp... Ngô Quyền bật cười - Đúng là Kẻ Mía Lại sắp vòng vo Hết to to lại nhỏ nhỏ Thôi, nói nhanh đi! Ngơ thì thầm - Tiểu thư là ái nữ của... Ngô Quyền lắng nghe, mắt sáng lên - Thế còn nghĩa huynh của nàng? Ngơ - Kiều Công Tiễn là hào mục châu Phong Vào đất Ái cầu thân dưới trướng Cùng 3000 nghĩa tử của thủ lĩnh họ Dương Mở mồm là “hiền muội” với “hiền nương” Mắt thì lấm la lấm lét Kiếm chưa vung đã sát khí đằng đằng Cái hạng ấy trước sau gì cũng phản chủ... Ngô Quyền - Vạ mồm bây giờ. Ta hiểu rồi, thảo nào... Ngơ bất chợt mừng rỡ khi thấy Ngâu từ dưới bến đi lên - Ối, cậu ơi nó ăn phải bùa phải ngải con rồi Đúng là gái phải hơi giai như thài lài gặp cứt chó... Ngô Quyền lắc đầu - Không, vẻ mặt cô gái có gì khác thường lắm... Ngâu hổn hển vừa thở vừa nói - Bẩm tráng sĩ, Cô con vì việc gấp phải đi ngay Sai con lên cấp báo Giặc Nam Hán vừa tràn sang Bắt Tiết Độ sứ Khúc Thừa Mỹ giải về Phiên Ngung Thành Đại La rơi vào tay Lý Tiến Máu dân lành đang chảy thành sông Thế nước lại một phen nghiêng ngả Cơ nghiệp họ Khúc mới ngót 20 năm Đã tang thương dâu bể... Ngô Quyền nghiến răng - Tiểu thư còn nhắn gì nữa không? Ngâu - Bẩm tráng sĩ, cô con chỉ nhắn Xin Người đừng quên giấc mộng Vạn Xuân... Ngô Quyền mắt sáng lên - Hãy về trình với tiểu thư Ơn tri ngộ, nợ Vạn Xuân ta sẽ trả bằng hết... Tiếng hát đò dọc vọng lên - Nghìn năm hùng khí Hát Giang Mỗi dòng sông Việt – một trang sử hùng Ba Trăng kỳ ngộ tương phùng Vạn Xuân xin hẹn khải hoàn Đại La...
|