Nguyễn Thái Sơn Trường ca
(Nhà Xuất bản Văn Học, 10-2009)
Tưởng niệm Anh Linh những Người Việt đã bỏ mình vì chiến tranh ở Thế kỷ Hai mươi
khúc thứ Nhất BIÊN THÙY
I Nhìn từ Vũ trụ Trái Đất sáng như khối pha lê xanh biếc tuyệt đẹp hình ảnh ấy có từ bốn chục tỉ năm khi Trái Đất vừa mới ra đời hào hứng bay kiên nhẫn bay trong vũ trụ biển bao la không chia thành các đại dương không phân biệt Biển Đen Biển Đỏ đất mênh mông nối thành lục địa không có đường biên phân định lãnh thổ quốc gia loài người chưa xuất hiện Trái Đất hiền hậu trong lành hành tinh dậy thì tươi nhuần màu mỡ chưa sôi nước mắt nóng hổi xót cay chưa phơi xương trắng chưa tuôn máu đỏ từng thế kỉ qua đi Mặt Trời ít dần sức hút mờ dần ánh sáng như cây nến cháy đến giọt cuối cùng ? địa cầu sẽ dạt trôi trong giá lạnh đặc quánh bóng đen không còn ngày nay không có bữa mai bình minh hoàng hôn không bao giờ có nữa Trái Đất sẽ rơi tự do trong những tỷ năm chìm nghỉm vào “ lỗ đen ” không khi nào chạm đáy chuyển động hỗn loạn trong vô cùng vô tận không gian cháy bùng nổ vụn vỡ tan !…
ngót bốn chục tỉ năm chưa có con người Trái Đất tẻ nhạt cô đơn dòng sông chưa được thoả thuê ôm ấp những hình thể khoả thân làn nước chưa thay gấm vóc lụa là giấu da trần thịt nõn bãi sông hang đá im lìm chưa rúng động bởi những cuộc làm tình bản năng đam mê cuồng nhiệt những con người đầu tiên xuất hiện nương tựa nhau ôm ấp nhau yêu thích thật nhiều giao phối thật nhiều sinh đẻ thật nhiều để bầy đàn thêm đông mặt đất đỡ hoang vu hang động không vắng vẻ bớt sợ hãi rừng thiêng núi dữ chó sói không vào hang bắt trẻ con
đông người xô ngã được cây cao bẫy bầy voi to săn đàn trâu lớn không lo thiếu thức ăn khi bão rừng lũ cuốn đàn ông có thêm đàn bà gái tơ tha hồ chọn nhiều trai khoẻ rừng của chung sông suối của chung thảo nguyên của chung của chung bầy ngựa rừng đồi dứa chín đàn ông của chung đàn bà của chung huống gì đất đai kể chi sông biển !…
II Đàn bà biết lựa xương thú lông chim con gái học cách chọn đất màu làm đẹp đàn ông ngày càng to cao khoẻ mạnh… nắng ủ men mênh mông bạt ngàn vô tận mía mật ngọt hoá rượu cay rượu nồng nàn quyến rũ ma qủy xui khiến con người chế ra nước phép để có thêm đồng bọn đồng minh rượu ngấm vào tim tan hoà trong máu đàn bà vồ gỗ đập quan tài mo cau quạt mộ đàn ông xé sách đốt đền rượu rút ngắn thời gian trở thành nghệ sĩ làm tăng nhanh số lượng nhà thơ… uống nhiều rượu núi ngỡ thấp vực tưởng nông con người thêm nóng vội nòi giống càng tinh ranh tăng ham muốn ở đàn ông rạo rực tim đàn bà rối lòng thiếu nữ…
người yêu người người sinh ra người chặt gỗ dựng nhà cắt gianh lợp mái thuần dưỡng lợn lòi thành lợn ỷ Mường Khương lợn sề Móng Cái chuối dại hoá chuối ngự chuối tiêu hành tinh khổng lồ không thể lớn thêm bớt hoang dã địa cầu càng chật khỉ vượn hươu nai hẹp dần đất sống chó sói đánh dấu lãnh địa móng chân cào toạc vỏ cây - rừng nào cọp nấy ! hổ báo gầm gừ đọc tuyên ngôn đất có Thổ công sông cần Hà bá con người gán sông núi cho thánh thần rồi tự nhận phần chia phần… bộ tộc kết thành dân tộc chiếm cứ lãnh thổ tạo dựng quốc gia hình thành biên giới biên cương biên ải biên thùy ta từng muốn được sống như thời man sơ ấy không cần Đảng A không cần Đảng B không cần cả Đảng C… không cần thủ tướng không cần nghị viện nghị viên mọi người đi cùng loại xe tuần lộc lôi chó kéo bắt thỏ săn nai hái lượm trái cây không ai thành tỉ phú không ai phải ăn mày được sống ở thời mông muội ấy ta chưa biết giẫm đạp lời thề khiến đời em dang dở khi nhắm mắt xuôi tay khỏi bị trừng phạt những vòng dây lửa thắt trói linh hồn
cuộc sống bây giờ cần nhiều thứ quá nhà ở xe đi bằng cấp ghế ngồi những danh hiệu danh xưng nào danh gia danh vọng bí danh bút danh lắm vào cũng vô danh vô tích sự thôi !
III Biên cương là dãy núi hiểm trở thưa thớt mờ nhạt dấu chân sườn đông nước này sườn tây nước khác biên giới là nhát cắt chia đôi con sóng cây gạo cao to gấp chục lần cột mốc hoa trên cành nước em rụng xuống cỏ nước anh Trái Đất chiếc bánh khổng lồ của Trời con người luyện lưỡi dao vô hình xắt thành vài trăm miếng hơn thiệt rủi may đã thành quá khứ không thể đổi thay không chia lại nữa ! cư dân xứ Việt con cháu ngàn đời của Rồng Tiên được chia giải đất vừa hẹp vừa dài uốn lượn từ Nam lên Bắc như miếng bánh chưng ở góc miếng bánh dợm ngoài rìa người Việt từ ngàn xưa lấy ấm là cần coi no làm trọng
nhân bánh của ta sừng tê giác ngà voi đồi mồi gỗ vàng tâm xà cừ lim táu than béo than gầy Phấn Mễ Hòn Gai Hồng Quảng mỏng tang vài lớp đất đồi lấm tấm vàng cám Bồng Miêu của nả chỉ bấy nhiêu mà trộm đạo rình rập giặc dã bên đông bên đoài mấy ngàn năm máu chảy đầu rơi
mục đồng dựng cờ lau đánh trận nữ nhi múa kiếm trên lưng voi trắng đè sóng dữ cưỡi cá kình đuổi giặc nghìn năm trước sang ngàn năm sau … biên giới biên cương biên ải biên thùy vẽ trên giấy vạch trên mặt đất chẳng tốt đẹp gì mọi chia lìa ngăn cách
ta vẫn muốn như thuở hồng hoang tự do trú ngụ tự do thiên di vùng này vùng khác như hươu nai cò vạc chẳng tốt đẹp gì nhưng nếu không có biên giới biên cương biên ải biên thùy hành tinh càng hỗn loạn rối ren đất đai vô chủ vô thần giành đi giật lại …
biên giới lắm khi phải chấp nhận trong hoài nghi thừa nhận trong cay đắng có thể thay đổi hiện tại sắp đặt tương lai nhưng lịch sử không thể nào thay đổi ! lắm kẻ muốn định lại cương vực lấn vùng này chiếm nơi khác xê dịch đường biên từ Bắc xuống Nam từ Đông sang Tây để “miếng bánh” nước mình thêm to thêm ngon những người mẹ Việt Bà Trưng Bà Triệu Liễu Hạnh Mỵ Nương những người cha Mai Hắc Đế Triệu Quang Phục Bố cái Đại Vương đất đai dưới gầm Trời cội nguồn sự sống phát tích văn minh Trống đồng văn minh Lúa nước văn minh Bánh chưng bánh dầy văn minh Ca trù Quan họ Cồng chiêng… hổ thẹn với tiền nhân mang tội với muôn đời sau nếu để giặc chiếm dù vũng nước trâu đầm gốc cây bờ ruộng…
IV Đất mọc rừng rừng vùi lấp triệu năm kết thành than thành quặng ma mút khủng long sứ giả lặng câm của thời Tiền sử bất tử trong những nét vẽ ở vách hang mặt đá ta đi trên mặt đất theo dấu chân khai sơn phá thạch dân phu muôn đời đổ mồ hôi nước mắt đồng bãi mỡ màu ruộng bậc thang quàng quanh vách núi người Việt bao đời nuôi con bằng hoa trái thóc gạo cá tôm nuôi đất bằng thịt xương của mình người với đất nuôi nhau bằng những gì qúy nhất thảo mộc chim muông hoá thân vào chữ viết vàng tâm tạc tượng gỗ lim dựng cột gạch ngói lợp đình để bà để mẹ để em ngả nón ghép khuôn nấu đồng đúc trống Đông Sơn Ngọc Lũ luyện sắt dựng ngựa thần Thánh Gióng đuổi giặc Ân…
thần dân Ba Tư dựng vườn treo Babilon nô lệ lưu vực sông Nin xếp đá tảng tạo kim tự tháp nông dân Khơme xây Angko Thom Angko Vát người da đỏ vẽ trên xương ức đại bàng người châu Phi xếp hình trên cát viết nên trường ca kể thành truyền thuyết soạn chung thông điệp gửi đến muôn đời : - cát bụi tạo nên con người lại trở về cát bụi ! Thành Cát Tư Hãn từng muốn đặt hành tinh trong tầm tên bắn có những năm tháng cả nhân loại lo âu phấp phỏng xe tăng in hình mặt trời, dấu thập ngoặc cuốn xích cày nát châu Á châu Âu đòi chia lại lãnh thổ quốc gia vẽ lại biên cương biên giới
- Tiệt nhiên định phận tại thiên thư - Núi sông bờ cõi đã chia - Sông có thể cạn núi có thể mòn… biên giới biên cương hữu dạng vô hình đời trước truyền đời sau gìn giữ Hốt Tất Liệt Nã Phá Luân Hít Le… mang xuống mười tám tầng đất đen giấc mơ bá quyền bá chủ. ___________________________________________________________________________________________
khúc thứ hai MẸ NHẰN HẠT NA CHA NHAI DẬP MÍA
I - Em cứ nói dù anh không tin không đợi nhưng đừng mong anh đáp lại ! - em yêu anh nhất trên đời ! ừ thì em cứ nói đêm diệu huyền đầu ngả sang đầu tay nóng bỏng tay cây nghiêng ngả trăng đầy hồ nổi sóng - yêu em nhất trên đời ! anh cũng muốn thốt lên như thế nhắc lại nhiều lần yêu nhiều như lá rừng dạt dào như sóng bể … nghiêng ngả chênh vênh đánh đu leo dây chóng mặt say đắm đam mê tình yêu tuyệt đối tình yêu tự do sáng trong buông thả… tình yêu trốn tìm trong mắt thả trứng chuồn chuồn ớt lên da rót mật vào tai anh tin em nói như lòng nghĩ nhưng không muốn đó là sự thật
đã có từ khi chúng mình chưa hiện hữu trên đời tình yêu đầu tiên tình yêu lớn nhất dành cho em cho anh thuộc về mẹ cha tự nhiên bản năng trước cả những gì ước muốn như với nghé sữa bê tơ mèo con cá bột
em có thể không là của anh suốt đời làm vợ người khác anh có thể mất em suốt đời đành là chồng người khác lòng anh yên tĩnh mỗi khi bước qua cổng chùa cảm ơn em vô hình bao lần kéo anh xổ khăn rách áo để anh khỏi xuống tóc như bao sư già sư trẻ trước khi ruổi ngựa vào rừng tìm Phép Màu chân tu thành Phật Tổ hoàng tử nâng gươm cắt mái tóc xanh tạ tội vua cha
anh không rơi từ ngọn cây em không lẫy ra từ ruộng nẻ ôm nhau thật chặt như hai kẻ hành hương vừa ngụp lặn trong nước thiêng sông Hằng nuốt giọt cam lồ uống nước tàn nhang giật mình bừng tỉnh không phải lời niệm Phật không lẩy ra từ Cựu ước Tân ước Coran Địa tạng tiếng nói tự đáy lòng - ta yêu nhất Mẹ Cha !
II Núi sông đầu tiên âm thanh đầu tiên ánh sáng đầu tiên ấm lạnh đầu tiên tất cả trong vòm trời đầu tiên vòm trời bụng mẹ vòm trời bụng mẹ ổ kén vàng tằm no lá dâu đại bàng non vỗ cánh bay chuyền tổ bám vách động Hương Sơn treo cành thông già rủ mái chùa Yên Tử vòm trời bụng mẹ bụi trúc ngà cỏ linh chi lót ổ trứng chim công trắng nõn phập phồng chờ nứt vỏ rực rỡ sắc cầu vồng nước dãi chim yến trộn lẫn huyết hồng lông tơ phượng hoàng ủ mây ngậm gió ngơ ngác cất tiếng hí chào đời ngựa chín hồng mao vòm trời bụng mẹ vùng trời đầu tiên
mẹ nhận biết khi ta còn mỏng manh tơ nhện chỉ mành giọt mưa sợi khói… nửa đêm về sáng bãi tha ma ngoài đồng gốc lim cổng chùa cây gạo bến sông đảo lá vặn cành phả làn gió độc chướng khí lọt qua khe cửa vào chõng mẹ nằm tơ nhện chỉ mành con của mẹ đứt tung làm sao nối lại ! mẹ lăn sóng soài trời mưa đường trơn mẹ ngã vặn lưng cọc cầu ao mục gẫy dưới bùn giọt mưa con của mẹ bốc hơi vào nắng yếm mộc khăn gai mẹ vắt dọc dây thừng phơi ngang sào nứa chim lợn kêu đêm quạ khoang nhỏ dãi sương độc thấm loang giải yếm tà khí nhàu khăn sữa ngọt của mẹ hoá nhựa xương rồng tháng tám dốc bồ ngày ba úp thúng cơm độn củ chuối cháo lẫn sung non mẹ ăn sắn độc xuyên rễ cỏ tranh nuốt phải măng luồng mọc bên hang rắn sợi khói con của mẹ bay theo mây trời !…
may mà cha đã sớm nhồi rơm bện rạ chắn gió che mưa bắc lại cầu ao đóng lút cọc gỗ bạch đàn ken dày mặt cầu lạt mây tre đực may mà đường trơn vãi tro ngõ lầy rắc trấu mẹ bấm mười móng chân tứa máu
phập phồng cuống nhau khí huyết dồn về con dày thịt xương nhô tai mọc tóc Bà Mụ nhào nặn tò he Đất Trời cho con tim óc linh hồn kết tụ từ lòng yêu thương hi vọng của cha tò he hoá thân con biết ấm lạnh buồn vui cùng mẹ mong đợi đủ tháng ngày cha đón con ra
bì bõm lội ruộng chiêm tóc mẹ đẫm mưa tàu bay Hencát, Đacôta xé gió trên đầu mẹ dò dẫm theo cha lựa chân tránh từng rãnh cày gốc rạ cả khi đã ngồi dưới hầm sâu bình yên trong lòng đất mẹ vẫn giấu con vào góc hầm kín nhất những năm tháng ấu thơ đêm mùa đông giá lạnh con rúc đầu vào nách mẹ lòng bà gác chân qua bụng cha khói thuốc lào cay quết trầu nồng sữa ngọt mỗi khi nhớ lại mắt cay mũi nghẹt đêm tháng chạp mẹ quấn con bằng vạt áo bông đụp chằng mụn vá giặc từ Bến Trại càn vào Đò Neo bủa qua Vô Hối Tây trắng Tây đen cắt đường bịt lối tao nôi cánh võng đầu tiên của con cặp thúng cái tản cư quang mây đòn tre đánh nhịp lắc lư thúng trước chị gái “dãi khoai” mủng sau em trai cối đá hàng ngàn chiếc - nôi - thúng treo trên vai cha mẹ từ Hà Nam Hải Dương chạy vào Nghệ An Thanh Hoá đồng bằng thành phố ngược Phú Thọ Thái Nguyên đói khát sợ hãi kiệt sức đẹn sài bao đứa trẻ không tỉnh lại
cà niễng thằn lằn sâu chè ếch cốm bánh mật tháng mười bánh ú tháng hai cua bấy giữ mai tôm càng tách vỏ muồm muỗm nếp mùa chín vàng trên lửa… hay ăn chóng lớn chúng con tập lẫy tập đi
mẹ nhằn hạt na cha nhai dập mía trứng rùa trứng rắn mẹ ăn lòng trong phần con lòng đỏ con nghẹn cá nạc bố nhằn xương vây… III Cha có niềm vui ngâm thơ hút thuốc uống chè tết nhất tổ tôm hội hè cờ tướng mẹ vào bếp ra đồng tứ thời bận rộn ma chay cưới hỏi môi thắm quết trầu đình đám giỗ chạp áo xống mới lành ra sân chùa xem chèo khăn vấn khăn vuông mới nếp nắng đội nón lá mưa quàng áo tơi mùng một ngày rằm lên chùa lễ Phật xoa chân xỏ dép mo cau cơm chiêm niêu đất cà dừa dầm tương bún riêu cua rau ghém ngó cần sung nếp mẹ ru con toàn những khúc ca buồn bước xuống vườn cà trèo lên cây bưởi ai về phố Suôi ai qua làng Hối “chiều chiều ra đứng ngõ sau…” cùng ngậm ngùi tuổi Thân cha mẹ nấp bóng nhau con không biết ngày đẻ tháng sinh mẹ mới chỉ kể “ngày ấy cha mẹ gặp nhau…” con đã chìm vào giấc ngủ nghe đi nghe lại con vẫn vô tâm không nhớ cha mẹ gặp nhau thương nhau khi nào ngày nào chạm ngõ ngày nào rước dâu con cũng chưa kịp hỏi bà sinh mẹ ở đâu có bao điều về ông bà cha mẹ con hoàn toàn không biết những dữ liệu của một thời quá vãng chưa kịp ghi vào ổ mềm trong lòng ổ cứng trong tim thời gian xoá hết !
giấu thân gầy trong áo nâu yếm gụ gậy tre vót nhọn mũi xuyên vào đất chân mẹ vẫn xiêu lưng cha vẫn lệch bao buồn lo nén chặt trong lòng nhễ nhại trưa hè tái nhợt đêm đông tóc rụng tóc rối quấn chuôi lược sừng cuộn thành trái táo trái cà treo ngọn na cành vối
IV Để lại những bài học thuộc lòng suốt tuần không ngó tới mớ quần áo trai làng trai phố chật căng sứt chỉ mẻ khuy dăm vần thơ ngớ ngẩn vài câu hát vu vơ viết nguệch ngoạc trên cột nhà cánh cửa nhưng lại hoàn toàn không hay biết nỗi buồn lo nghẹn tim thắt dạ mẹ cha từ lúc biết đứa con hứng hoa nâng trứng sắp đi xa
ăn bữa cơm cuối trong nhà mình chỉ còn đêm nay ngồi trước ngọn đèn dưới mái nhà mình đủ anh chị em còn cha có mẹ chỉ vài giờ nữa lên xe ra trận chợt giật mình nhận ra những điều ngỡ xa lạ lắm lưng cha còng từ bao giờ sao mình không biết cánh tay mẹ gầy guộc mỗi ngày đơm sáu bát cơm độn khoai trộn ngô cho mỗi đứa con ta cũng chẳng hay đàn em thơ dại cao gầy lêu đêu trái bếp gió lùa mái rạ mủn mưa mấy chiếc cột nhà hình như đã mọt mười tám năm sinh ra trong nhà mình lớn lên ở nhà mình ta như người xa lạ ! không kịp nữa rồi xe nhận quân đã sắp về làng cờ, khẩu hiệu đỏ sân hợp tác sao ta không nhận biết sớm hơn vài tháng vài tuần vài bữa không còn kịp nữa xe chật đường thôn trống giục ngoài đình ta nào biết cha mẹ anh em không bao giờcòn đủ đầy như thế V Cha chưa lên thủ đô mẹ mới ra khỏi huyện vẫn biết chúng con đói quay đói quắt ngoài trận mạc nhiều lần dạt qua biên giới lắm khi bị vây hãm trong hang vẫn biết chúng con ngủ hầm sưng khớp nằm võng vẹo lưng sốt rét vàng da sưng gan phù lách… cha mẹ còn biết lẫn trong lá xanh có loài rắn lục cá sấu lặn dưới nước đục nhử người xuống tắm ở quãng nước trong hổ báo rình mồi cạnh lối mòn rừng cháy suốt đêm những người lính vẫn chết trong cơn rét tầm tã mưa rừng khốc hại mưa bom dưới mỗi mái nhà những người mẹ người cha đều biết dù thư gửi về cả năm chưa đến thư nào chúng con cũng an lòng cha mẹ : - quân ta toàn thắng ! - bọn giặc toàn thua !
chúng con bắn súng quen tay mắt to mắt nhỏ má sạn vai u vẫn không ngờ viên đạn sắc nhọn xuyên thủng lỗ chỗ giấc ngủ của cha xé toạc giấc mơ của mẹ cả khi đạn bom làm thủng thịt gãy xương chúng con đau xé trong cánh võng vải nhẹ bẫng ướt sũng mồ hôi những người lính không tỉnh dậy sau cơn co giật ở quê nhà hình như mẹ cha đều biết đau nhói ruột gan nước mắt chảy ròng cày rời tay cha bò tế trâu lồng đom đóm nổ trong mắt vàng lét xanh le mẹ rùng mình như trúng gió …
những người mẹ người cha có con ra trận có con tử trận chết mòn chết dở bao lần trước khi chết thật __________________________________________________________________________________________
khúc thứ Ba HOÀ BÌNH CHIẾN TRANH ĐÀN ÔNG & ĐÀN BÀ “NGẢ LƯNG” GIỮA HAI CUỘC CHIẾN
I Với nhiều người Việt từng sống đang sống Thế kỉ Hai mươi dài cực dài chỉ Thập niên Sáu mươi đã lâu như cả thế kỉ yên bình từng trôi qua lặng lẽ Tây Ban cầm sáu dây cây đàn huyền diệu của văn hoá văn minh nhân loại không dễ độc tấu hoà tấu mười chương khúc của Thập kỉ Sáu mươi ta thửa cây đàn mười hai dây ghép bằng sắt gang tre nứa chỉnh đàn đến không thể căng thêm để dây khỏi đứt tung âm thanh không lạc thấp hơn nửa cung cao hơn nửa nốt năm tháng hàng phím lõm !… sau chín năm kháng chiến những người lính Trung đoàn Thủ Đô Đoàn quân Tây Tiến tuổi nghấp nghé ba mươi bốn mươi đang sung sức giữa thời trận mạc mấy triệu tráng đinh thợ cày thợ mỏ khoác trên mình quân phục đủ sức đuổi giặc đến mũi Cà Mau bịt chặt các cảng Đà Nẵng Sài Gòn không để giặc ngoại xâm đổ bộ lên đất liền lần nữa những đại đoàn chủ lực Quân Tiên Phong Chiến Thắng Đồng Bằng... bừng bừng nhuệ khí hạ trại ở Đồng Lê án binh quanh Nhật Lệ dừng cuộc trường chinh ngay trước Khu Phi quân sự Vĩnh Linh những người lính từng trải im lặng nhìn nhau đất nước phải chia đôi ? không thể hiểu không sao hiểu nổi ! Vĩ tuyến Mười Bảy Vĩ tuyến Mười Bảy !!! ???… (ghi chú: năm 1954, Việt Nam có thể đủ sức thắng Pháp, giải phóng cả nước, nhưng lại kí hiệp định Giơnev chia đôi lãnh thổ.) II Sau ba ngàn ngày chiến trận… những dàn đại bác nguội dần vỏ đạn, xác ca nô đợi hoá thân thành nồi đồng điếu chảo gang trăm vạn chiến binh náo nức thay nhau nghỉ phép bao cô gái quê xốn xang ngóng trông bộ đội về làng mơn mởn con gái tỉnh Đông xứ Đoài đồng dâu bãi mía vừa kịp dậy thì những cô hàng xén hàng tấm Hải Dương Bắc Ninh Nho Quan Phủ Lý chải mượt tóc bồng lá bún mơ làm “con dâu Cụ Hồ” vợ vệ quốc quân
từ thủ đô gió ngàn, Sầm Nưa Mường Lát khoác áo trường chinh về lại kinh thành những sĩ quan không cấp bậc quân hàm oai hùng giầy đen áo đại cán Tôn Trung Sơn bốn túi lọt mắt xanh tiểu thư Hàng Bạc Đồng Xuân chiến binh của những trung đoàn thiện chiến Bắc Bắc, Thủ Đô, Tu Vũ (ghi chú: thuộc Đại đoàn 308) hành quân ngang dọc giấc mơ thôn nữ khăn nâu đồng tiền khăn đen mỏ quạ Từ Sơn Lục Ngạn Canh Diễn Nhật Tân… mẹ chồng sinh thêm con út con thêm nàng dâu hai năm ba lần vượt cạn làng quê phố thị râm ran pháo cưới những cô đỡ trẻ các bà mụ vườn bao năm nhàn nhã chân tê tay dại ngày ngóng người mời đêm chờ kẻ gọi bây giờ tất bật đi sớm về khuya
“từ nay bom đạn hết rồi con thuyền xuôi ngược thảnh thơi giữa dòng…” trẻ trồng na già giồng bạch đàn xẻ đá nung vôi đắp lò nướng gạch Thẻ Nhận ruộng trường tồn cùng phim ảnh thành báu vật trong các viện bảo tàng - kỉ niệm một thời gửi tới mai sau ? ruộng mới nhận vừa chia lại gom vào hợp tác “chiêm mùa cờ đỏ ven đê sớm hôm tiếng trống đi về trong thôn”
chỉ vài trăm người biết bộ đội công binh sắp mở đường mòn dọc Trường Sơn chỉ mấy chục người hay những con tàu không số đang âm thầm rẽ sóng biển Đông vạch Đường Hồ Chí Minh trên biển cây dương cầm cũ dưới tán đại ngàn phát ra từng chùm hợp âm kết thành giai điệu Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước viết những nốt nhạc mở đầu hành khúc Giải phóng miền Nam lại có chiến tranh ! chiến tranh sắp nổ ra ! những người làm mẹ làm cha giao thừa năm ấy vẫn không ngờ cuộc chiến khốc liệt đã rất gần Tết ấy với bao cuộc đời đã là Tết cuối “cả nước lên đường xao xuyến bờ tre từng hồi trống giục” con trai lớn nhập ngũ bố hoãn phục viên cỏ thao trường chưa kịp hồi sinh lại dập nát dưới đế giày lính mới chồng thôi làm nhà ngói vợ bán bò chặt tre đong thóc trữ sắn khoai con gái vội lấy chồng gấp gáp đẻ con trai cả những người dân thường cũng hiểu chiến tranh lần này dằng dai khốc liệt vợ chồng li tán gia đình nát tan chục triệu người Việt Nam mang thương tích suốt đời mấy triệu người sẽ chết !…
NHỮNG ĐỨA CON KHÔNG THỂ TƯỢNG HÌNH
Ngay cả trong chiến tranh mỗi khi ém quân trong rừng lính khoẻ mạnh như đi an dưỡng không khói xám khói đen nhà máy không chất độc hại phun từ đủ loại động cơ cá suối thịt rừng bột trứng lương khô gạo nếp nấu chè đậu xanh ngâm giá chiến dịch chưa mở màn binh lính nhàn cư chỉ huy nhàn nhã …
không sợ thồ balô nặng trĩu đi bộ mấy tháng suốt Trường Sơn không sợ hùm beo rắn rết không sợ đạn bom chất cháy vỏ chuối chất độc da cam những cái chết đủ hình đủ dạng đeo bám rình rập đợi chờ… chúng tôi những người lính đàn ông con trai mạnh mẽ mười chín, ba mươi tuổi sinh lực căng tràn công nhân khuân vác Bến Bính, Phà Đen chân sào thuyền buôn vai nổi u hằn vết thừng chão kéo thuyền xuôi ngược sông Chu sông Mã lực điền Quảng Bình tráng đinh Thanh - Nghệ thợ sơn tràng Hòa Bình trai Cầu Vồng Yên Thế… lưng săn ngực nở vai đầy đùi ếch chân dê tay càng cua biển mụn trứng cá dày như kiến không e ngại bất kể điều gì chỉ khổ sở vì dư thừa năng - lượng - đàn - ông
Thập kỉ Sáu mươi đã có mấy người biết khái niệm đồng tính đồng giới lính trẻ chúng tôi chưa được ai chỉ bảo cách thỏa mãn mình chưa phải kiểm thảo không bị cản ngăn cứ ngỡ đã phát kiến ra điều kì diệu ! dừng chân một đêm ở rừng tre rừng chuối mắc võng mấy ngày đợi hành quân tiếp mưa đầu mùa măng tre mập mạp tua tủa mọc lên năm bảy chồi non chen chúc nẩy từ thân chuối mẹ ông già Xêđăng bập thuốc rê sâu kèn nhả khói cười kha kha : - chưa có khi mô… như rứa ! quẳng balô xuống cỏ dựng súng gốc cây nằm lăn trên lá khô đá tảng duỗi chân dang tay ăn dăm bảy bát cơm măng vầu mắm ruốc lính phởn phơ sức lực lại ứ đầy những chiếc võng lép kẹp vỏ đậu nhẹ bẫng tàu dừa những chiếc võng nặng trĩu căng phồng đố tục giảng thanh chuyện tiếu lâm chuyện phòng the chăn gối râm ran rôm rả rúc rích tiếng cười những người lính da trần như nhộng nằm ôm nhau ngủ chung võng suốt đêm võng một hóa võng đôi trĩu nặng dềnh lên dập xuống như thuyền dây võng níu căng ngả cây tróc vỏ sên vắt thức giấc tìm mồi rào rạo lá khô dưới những tấm võng có từng đám kiến nâu kiến gió… (ghi chú: 2 dòng này theo như bản gốc, trước khi biên tập) - không thế suốt đêm nhiều đêm chúng em mất ngủ - không làm thế có khi phải tìm vô bản tụt lại dọc đường vào rừng phát rẫy lấy vợ Vân Kiều bám xe nhảy tàu lội bộ đào ngũ về quê…
sau những cơn vật vã trăn trở bất an được giải tỏa những người lính ngủ ngon ngáy pho pho như sấm gương mặt dãn chùng thảnh thơi mãn nguyện nụ cười bí hiểm đậu khóe môi bao bạn bè đồng đội chỉ vậy rồi thôi mang đủ nỗi khát thèm xuống Đất hương vị trái Đào Tiên chỉ có trên Trời ! tình yêu tình dục nghe kể rồi tưởng tượng không sờ tay không nhìn tận mắt bạn tôi em tôi chết trận riêng điều ấy mười mươi có thật ! chôn vội lấp vàng những thi thể con trai chưa từng cọ sát da thịt phụ nữ mỡ màu ấm nóng chưa nhìn thấy ngồn ngộn thân hình đàn bà không bị lá chuối áo tơi nón mê che khuất những đứa con – một – nửa không thể tượng hình từ trăm ngàn người lính thành máu thịt sên vắt kiến gió kiến nâu đom đóm lập loè bay hoang dại rừng xanh hun hút vực sâu
Thập kỉ Sáu mươi Thập kỉ Bảy mươi đêm dài như tháng tháng bằng cả năm đàn bà sợ tuần rụng trứng đàn ông uổng phí tinh trùng… (ghi chú: 2 dòng này theo như bản gốc, trước khi biên tập)
NGƯỜI ĐÀN BÀ CÓ CHỒNG TRONG NHÀ Sống với nhau mười mấy ngày anh vào Vệ quốc xa cách chục năm chị đã ngót ba mươi chiến thắng Điện Biên sau vài lần “nghỉ phép mười hôm” anh được giải ngũ về quê người lính nào chẳng muốn “nghỉ phép suốt đời” như thế ! thoả sức đắp bù “ăn giả bữa” cả đêm “ăn vã ăn vụng” suốt ngày có khi mong trời mưa muốn cả làng đi vắng lắm lúc không dám tin là thật
có chồng trong nhà tháng trước tháng này tháng nữa… đêm nào cũng quấn lấy chồng đêm nào cũng được chồng ôm chị nói thầm hát thầm cười thầm thẹn thầm rưng rưng nghẹn ngào… mặc kệ chồng lo toan những điều to tát cột nhà cái trên vai anh chị chỉ biết làm vợ làm mẹ làm dâu quảy rơm gánh rạ đánh đống ngoài vườn không để gió lùa máng lợn cũi trâu không để dột bếp tàn tro nguội lửa chị vá buồm se thừng phơi chão tát nước lòng thuyền dây lèo bánh lái đá ngầm bãi cạn đã có chồng lo chị chỉ biết làm mẹ làm dâu làm vợ hương hoa trên ban thờ gạo muối sẵn trong thưng …
tóc dài óng mượt bồ kết lá chanh ngát dịu bạc hà hương nhu hoa bưởi đằm duyên nhuận sắc lắm khi chị giật thót nghi ngại chính mình hơn hớn lúa chiêm tháng ba rạo rực đê mê đón sấm gió heo mật trèo ngọn mía cuối thu trời lạnh se se nắng hanh vàng rực ngọn cây da dẻ đàn bà nứt căng đỏ lựng nhìn vợ anh tặc lưỡi dựng cày buộc trâu kéo rào dấp ngõ lỡ buổi làm đồng…
chỉ đủ vợ đủ chồng ngần ấy tháng năm kịp có ba con đủ cả gái trai nhà lợp rạ ba gian vườn ba sào tươi tốt vững chãi cột gốc xoan đào mái ấm gia đình nắng không hắt gió không lùa mưa không dột con chụm chân kiềng chóng lớn mau khôn vợ thị thơm muỗm ngọt mơ chua khoai mầm mật ứa thóc giống căng bồ mít chín thơm đến cùng ớt ương cay tột độ xanh mướt thài lài phân gio đủ độ chồng dẻo trâu lò mật dai sức bò cày hăng như ngựa kéo hả hê mưa nhàu cỏ bợ vợ chồng đầy dầu dài bấc giếng đá ngọt lành dây gàu săn chắc anh cày em cấy vui thú đến trăm năm…
như con sẻ đồng linh cảm trước bão giông gió lệch hướng bợt da mưa muối chanh xót dạ mùa thu năm ấy lạnh lẽo qua nhanh gió bấc lạnh ngắt tràn về mưa phùn giấu nước vào mái rơm không bay lay phay không ngưng thành giọt khói bếp bay là ngọn cau chẳng chịu lên trời…
tổng động viên ! tất cả cho tiền tuyến ! chồng chị cùng chồng những người đàn bà trong làng ngoài phố chia tay vợ con cha mẹ họ hàng chia tay những năm tháng chóng vánh hòa bình hai lần ra trận cách nhau mười mấy năm bỏ lại những người ruột thịt đông gấp mấy lần đàn ông từ nay khát da thịt vợ phụ nữ thiếu cơm thèm vải nhịn đàn ông đói cháu con…
NGỌAI TÌNH
Thập kỉ Sáu mươi khi đêm đêm ở rừng những người lính trăn trở trong cánh võng đơn võng đôi dưới võng có những đám kiến nâu kiến gió… ở bao miền quê hàng triệu cô gái tươi tắn ngoan hiền giật mình hốt hoảng lo sợ lần “có tội” đầu tiên rồi mông nổi vai nây ngực nở … những người đàn bà rất mực Đàn Bà ba mươi hai tuổi bốn mươi mốt tuổi vú căng bưởi đào quệt vôi đợi Tết mông đùi đàn bà rừng rực ba đống rấm cháy lụi gộc tre … từng tế bào trong xương chuyển hóa mùa xuân thứ hai của phận đàn bà chồng còn sống mà như vợ goá
hồi xuân tái xuân da thịt nà nuột tươi nhuần nhấm nháp ngốn ngấu chính mình những người đàn bà sung mãn đêm uống “ nước sông ” ngày ăn “ cơm nhạt ” hồi xuân tái xuân bữa tiệc cuối của phận đàn bà cơm canh chẳng người đụng đũa xôi khô chè vữa !... những cô dì thím mợ trong họ ngoài làng cơm độn sắn khoai ăn còn lửng dạ dáng vóc phổng phao chân tay chắc nịch nhạt mùi chồng quên hơi hướng đàn ông “ruộng đồng của ta thẳng cánh cò bay chồng cày vợ cấy thỏa chí từ nay…” ruộng đồng ngày càng dài rộng vẫn như ngàn năm con trâu đi bừa vẫn thế muôn đời vợ cấy câu ca dao bao đời hóa thành hoài niệm những người đàn bà cày ngầm ruộng chiêm nước ngập đuôi trâu nước ngập bụng em loang đỏ !... như cò đậu ngọn cong vạc bám cành mềm quanh năm lầm lụi bới khoai mót lúa “từ ngày anh đi việc đồng em giỏi dang ruộng cấy chăng dây cây lúa thẳng hang”
II Lợn tơ động đực bỏ cám phá chuồng xệ lườn vịt bầu ướt mào gà mái trâu nái cà lưng bóng nhờn cành duối bò sữa cọ hông nhẵn thín gốc si dửng dưng nhìn cỏ mật lá mía bẹ ngô …
gặp gỡ làm quen yêu cưới “ tập đoàn ” chỉ có mấy ngày trời rồi xa nhau người ra trận hẹn về người hậu phương hứa đợi mười chín năm con gái làm đàn bà hai đêm lạ quen biết dăm ba điều còn bao chuyện hay ho chưa biết khế chín dở ngập răng vài miếng rượu nếp cái hoa vàng mới ướt nửa môi thực tập làm đàn bà hai đêm lại sống đằng đẵng như thời con gái nhưng làm sao còn có thể yên ổn thanh thản nhẹ nhõm như xưa cái thời chanh mọng cốm mềm có khi nào trở lại! sẽ không còn phải sống như con gái chín năm mười tháng bốn bữa bảy giờ nếu chị không quên lời hứa không quên đã từng làm vợ không phản bội ngoại tình ngực bung cơm mới đùi giật hông rung vú nở tuột khuy mông cồn giãn vải khoả thân tắm ao bèo nóng rẫy ngứa ran da thịt chỗ nào cũng như có dấu răng vệt môi cháy bỏng mười ngón tay chồng vuốt ve xoa nắn đêm giá lạnh chẳng cứ gì đêm lạnh chạm giường chiếu sởn da gà đụng gối chăn giá ngắt chị buông màn thổi đèn tắt phụt giật tung dải rút dứt vỡ khuy cài… chăn bông nặng cuộn tròn đè thân vồng căng cứng giường lún giường nghiêng giường gãy giường sập trong mơ mơ như thật bủn rủn rã rời toạc màn thâm chiếu…
những giấc mơ nhiều công lắm tội đê mê khoái lạc chị thăng hoa thành Súy Vân mê dại tựa Thị Mầu… thành cây chuối mật nghiêng ngả trong vườn bẹ lá tươi xanh ruột âm ỷ cháy… những người đàn bà khao khát tình yêu khát thèm ân ái da thịt có gai có lửa ong bay khắp dạ kiến nhằn trong xương lan toả xạ hương rạo rực tê mê những vùng nhạy cảm cơ thể giao động run rẩy căng mặt trống bỏng dây đàn gánh nước nửa đêm tưới đầm vườn nhãn xay vài thúng thóc giã nửa nong ngô đủ sức làm “ đo ván ” dăm bác thợ nề vài ông thợ mộc nhưng trong làng ngoài xã làm gì có đàn ông làm gì có thợ nề phó cối kiếm đâu ra đàn ông đáng mặt đàn ông khoẻ mạnh tự do ở lại hậu phương đàn ông vẹo lưng lệch vai đầu to chân ngắn tay dài ưa tuyên truyền thích giảng rao đạo đức bị trói buộc bởi bao danh xưng chức phận may mắn lọt sàng vài mống thực sự đàn ông họ lập tức bị giành giật chiếm giữ ốm o gầy mòn hồn vía đêm ngày chịu giam cầm thân xác sớm hôm bị ngấu nghiến
có chồng hai đêm chị chỉ là đàn bà tập sự thi cấy ở xã thi cày trong thôn nửa đêm vùng dậy tát nước gàu sòng uống nước mưa mặt cũng đỏ nhừ như say rượu tứ thời kìm nén quanh năm khát thèm … vụ chiêm lại vụ mùa năm Mùi đến năm Thân thực tập làm đàn bà hai đêm đàn bà chính thức gần mười năm thất nghiệp
khép hờ cửa buồng lách vạt ngô già nấp bụi mía non thịt da ngút lửa tự đốt tự thiêu trưa ôm bao thóc chiều ghì cột nhà đêm quặp chăn ép gối… III Mười năm mười lăm năm hai mươi mốt năm… vẫn chỉ sống như thời con gái nếu chị không hư hỏng nếu chị không phản bội nếu chị chẳng ngoại tình chân đê gió mát trăng thanh ngồn ngộn rơm phơi rạ chưa kịp bó phát cuồng hai kẻ “gian phu dâm phụ” quấn chặt nhau như rắn như mèo lửa cháy không buông nước dâng chẳng bỏ lăn lộn giẫy đạp cấu cào gãy đậu dập vừng chìm bèo nát cỏ… nửa đêm về sáng đồng xa vắng lặng hồng hộc hơi thở hổn hển tiếng rên trong làng ngoài xã không ai hay biết
nhưng có một bóng người nước mắt rơi lã chã những giọt lệ vô hình người sống không nhìn thấy chồng của người đàn bà ngoại tình đã về đến quê hương ngày đậu trên ngọn muỗm sau miếu đêm đánh đu cành thị cổng chùa ba năm rồi anh theo mây gió lồng bồng trong nắng lướt thướt trong mưa… __________________________________________________________________________________________
khúc thứ Tư TIẾNG NÓI VIỆT NAM I Học tiếng cành cây rơi âm thanh chùm quả rụng nước chảy mây bay vượn hót chim gù tiếng sóng thét gào biển bão rừng tre cọt kẹt võng đưa… đời trước dạy đời sau động tác ở tay chân âm thanh từ miệng tiếng nói lời chào thay hú hét cha mẹ dạy con trai gái tỏ tình…
khác nhau nóng lạnh khác nhau nắng mưa thảo nguyên bao la bình nguyên bát ngát đất đai dị biệt khí hậu bất đồng tiếng nói con người mỗi nơi mỗi khác không hiểu lời nói thay bằng nhựa cây sỏi màu gạch đỏ than đen - em thương anh - anh yêu em vẽ hình cá chép vẽ hình chim công nói bằng da thịt …
lời nói nơi này bổng trầm thơ nhạc nơi kia lanh chanh líu ríu như chim có lời êm nhẹ sương rơi lá rụng có câu nặng trịch sỏi lặn cát chìm sáo diều chín ống đàn đá sáu thanh giọng nói mẹ ta có thơ có nhạc thương giận sáu cung buồn vui sáu bậc : sông dài nước lặng mảng gỗ lênh đênh (ghi chú: tương ứng 6 dấu trong tiếng Việt)
tiếng hạc lưng trời từng giọt trong veo trầm ấm mõ vầu giòn sênh nẩy phách được lời cởi dạ miệng nói mắt cười dỗi hờn chì chiết quang đứt mẹt trôi… bà ngồi nhai trầu tay đưa võng gai miệng kể ngày xưa mẹ ta đánh khẽ giơ cao la mắng chỉ ví von răn dạy toàn ca dao tục ngữ : “ương như ổi xanh nghịch như quỉ sứ chớ ăn thùng bất chi thình một điều nhịn là chín điều lành vụng may sao bằng khéo vá…” II Hàng triệu trang giáo trình, hình ảnh… Hà Nội in tại Cục Tác chiến Sài Gòn soạn thảo ở Bộ Tổng tham mưu chỉ dẫn cặn kẽ doanh trại ở đâu nơi nào có kho bom đạn lô cốt mấy ngăn rào gai mấy lớp phải rải thảm cánh rừng ấy bằng B.52 hủy diệt khu đồi này bằng trọng pháo… chữ viết hoa ngang dọc thẳng hàng đều tăm tắp như đội quân danh dự số đen chì than chữ xanh mực nước bay bướm sắc sảo ngang tàng viết từ bàn tay tài hoa của những người có học từng tu nghiệp ở Mỹ ở Nga không ít người trong họ thực sự có tài tất cả viết bằng chữ Việt !
những tư lệnh chính ủy quân giải phóng quân phục gabacđin cỏ úa Tô Châu tướng lĩnh Sài Gòn bận đồ trận kaki xanh dương Tếchdát chụm đầu bàn định những kế hoạch tuyệt mật dưới hầm sâu cách nhau vài trăm bước chân cũng có thể cả ngàn cây số chiến tranh bên nào cũng muốn chiếm giữ nhiều đất giành giật nhiều dân nhưng mục tiêu tối cao ý đồ tối thượng: - tiêu diệt thật nhiều “địch quân” chiến tích càng lẫy lừng nếu đối phương có thật nhiều binh lính sĩ quan bị giết ! tất cả nói bằng tiếng Việt ! những người lính dù, biệt động đội mũ bêrê mặc đồ trận rằn ri dàn quân xông lên đồi vừa bắn vừa la - mồ tổ tụi bây - hạ súng đầu hàng hay chịu chết !… chiến sĩ giải phóng tiểu liên AK gắn lê nhọn hoắt lựu đạn xếp chồng trước mặt mấy cậu lính trẻ văng tục - mả mẹ chúng mày rồi hạ quyết tâm - còn một người vẫn còn trận địa ! lời qua tiếng lại đe dọa thách thức giọng Bắc giọng Nam tiếng nặng lời thanh … tất cả nói bằng tiếng Việt! đạn AR.15 bắn gần khoan vào trán găm giữa ngực những người lính đội mũ tai bèo đổ gục như măng vầu gãy ngang mía non bật gốc lời cuối cùng lọt qua cặp môi hết máu - mẹ…ơi !… tốp lính Sài Gòn lò dò đặt chân lên sườn đồi hứng trọn những loạt AK. vào đầu vào ngực chìm trong quầng lửa mìn cờlâymo chói mắt la hét hoảng loạn - Trời Phật ơi ! - em ơi ! - các con ơi ! những tiếng la lạc giọng lịm dần ằng ặc trong ồ ồ máu xối chú lính thông tin còng lưng cõng máy bộ đàm khuôn mặt non choèn mới hết tuổi trẻ con ruột sổ lòng thòng kéo lê trên sỏi đá khóc hù hụ thều thào kêu ba gọi má !… tất cả mọi người nói bằng tiếng Việt !
những người dân nghèo trồng lúa trên khắp cù lao sông Tiền sông Hậu đốt than đước rừng ngập mặn U Minh nuôi tôm sú ở Năm Căn chở thuê dưa hấu Gò Công bán mì gõ ngang cầu Ông Lãnh … có người nhà bị bắt đi quân dịch vô lính cộng hoà làm dân vệ bảo an đêm đêm vàng mã đèn nhang mùng một ngày rằm hoa trái lên chùa van vái cầu xin cho chồng con được giải ngũ có dính đạn bom cũng chỉ “sơ sơ chút đỉnh ” những người đàn bà thợ dệt Nhà máy Mùng tám tháng Ba những công nhân seo giấy tập dưới chân núi Đáp Cầu chẻ gỗ làm diêm Thống Nhất bên bờ sông Đuống đội than ngoài Uông Bí Cửa Ông cày cấy trên những cánh đồng năm tấn Lý Nhân Tiền Hải có chồng con ngoài mặt trận sớm mai ngủ dậy chỉnh tề áo khăn một lời không nói nửa miếng chưa ăn chắp tay khấn vái cầu xin Trời Phật Tổ tiên phù hộ độ trì người thân thoát mũi tên hòn đạn… tất cả mọi người nói bằng tiếng Việt ! tiếng Việt Nam tiếng mẹ tôi Nguyễn Du viết Kiều Đoàn Thị Điểm dịch Chinh phụ ngâm Cao Văn Lầu soạn Dạ cổ hoài lang người Huế hát Nam ai Nam bằng Phú Thọ trống quân hát ghẹo hát xoan liền chị liền anh Bắc Ninh mời trầu giã bạn… tiếng Việt Xuân Quỳnh Lưu Quang Vũ làm thơ viết kịch những đêm trăng Thanh Tước rừng bia mộ long lanh sương đọng vẳng trong gió não lòng khắc khoải ngẹn ngào xót đau day dứt “Người Đàn Bà Hát” hát “Nỗi nhớ mùa đông” chữ Việt thời chúng tôi sống én bay ngược gió cá lội ngược sông tiếng Việt thời chúng ta sống hoạ mi hót trong bão giông… ______________________________________________________ khúc thứ Năm HÌNH NHƯ AI CŨNG KHỔ
NHẰN TRẤU NUỐT GẠO
Ngày ấy dòng điện còn ngủ vùi trong lưu tốc sông Xêsan sông Đà dầu ứ đọng từ mấy triệu năm trong các địa tầng dưới thềm lục địa chủ Pháp cũ giám đốc Việt mới vét sạch sành sanh những vỉa than lộ thiên ở Hồng Gai Cẩm Phả chỉ còn than béo than non ăn ngầm dưới thăm thẳm đất sâu những giống ngô nuốt vào bụng giấu trong búi tóc mang về từ xứ người đã mấy ngàn năm nay gầy guộc thấp tè chen chúc với cỏ gừng cỏ gấu thóc lép mỏng nhân dày trấu thoái hoá hai vụ chiêm mùa thóc Ỏn gạo Dự nếp Quýt tám Xoan dẻo ngọt thơm bùi sàng sẩy mỗi sào dăm bảy thùng nia thừa nong thiếu gà ri nhẹ như trái dứa lợn ỷ lợn Mường nhỉnh hơn đon lúa dai dẳng chiến tranh suốt đời túng đói câu ca buồn bao đời truyền lại “tứ thời rau muống tứ thời tương” đình miếu thấp le te chùa Một Cột nho nhỏ xinh xinh gánh hát chiếu chèo chéo khăn mụn vải nước lọ cơm niêu ngô đèo khoai rãi da ếch bịt trống bầu khô làm đàn quạt mo gối nan tương cà gia bản vẩy cá hơn lá rau chõng nứa giường tre một đời chồng vợ râu tôm ruột bầu xuống bể mò cua lên rừng hái bứa ngả vại tương bần trưa chấm sắn luộc tối trộn ngô bung con mơ thịt vịt dầm tương vợ thèm bánh đúc chén mắt trâu hạt mít chồng nhấp từng giọt rượu sắn rượu khoai
những năm chó Laika đã bay vào vũ trụ người quê tôi đau bụng cũng chỉ nuốt gừng nhức đầu xông ngải cứu cúc tần bong gân quệt vôi dập xương bó lá thầy giáo làng thu học phí bằng mủng khoai mảnh vải diềm bâu, xâu cá mẹ chỉ đủ tiền mua dép lốp cho chị gái sang Phủ Lý học lớp ba tôi vào lớp một chân đất dẫm gai bồ quân tủi thân nằm ôm chó đá cổng đình nửa đêm mẹ ra góc vườn ngồi khóc tháng tám dốc bồ ngày ba giáp hạt khói chỉ bay loãng tuếch trên mái bếp cuối ngày nửa làng ăn xin cả xóm ăn mày trẻ trâu đói lả bẻ mía non người lớn vặt trụi ngọn khoai lá đậu ngoài đồng chết đuối lặn xuống ao trộm cá ngã gẫy chân tay trèo cây hái mít xanh bần hàn cố đế túng quẫn thâm căn vay mượn truyền đời nợ nần mãn kiếp sợ hãi ngấm thịt xương buồn đau hoà khí huyết thiếu ăn nên thiếu máu ngồi xuống đứng lên choáng váng sa sẩm mặt mày đói rỗng đầu hoa mắt run rẩy chân tay bom đạn đi qua bão lụt đi qua xơ xác tiêu điều đồng ruộng chiêm khê mùa thối sân đình nước đọng à uôm ếch nhái gạch lục lát đường cậy bán từng viên phòng khi thất bát giàn bếp treo mươi túm khoai lang đáy cót lúa dăm nồi gạo trong ang mấy đấu sắn lát vài nia ngô tẽ lưng bồ ăn dè xẻn khoai chiêm thắc thỏm đợi lúa mùa cầu Trời lũ lụt đừng dâng bão dông đừng đổ !... đeo đẳng mấy chục năm ở Thế kỉ Hăm mốt vẫn không bỏ được thói quen mỗi khi gặp hột thóc lẫn trong bát cơm tôi nhằn vỏ trấu nuốt trôi hạt gạo
người đàn ông cuối cùng trong làng khoác lên mình áo lính làng quê phố thị rặt con gái đàn bà cõi nhân gian què quặt thê lương đất nước có một thời hình như ai cũng khổ ! LÍNH NÔNG DÂN
Xứ sở lúa nước cá ruộng rau vườn khi giặc dã lúc yên bình sung quân tuyển lính quốc gia trông vào lực điền tráng đinh thưa thớt người kẻ chợ ! dấu tích Chân Lạp trên những ngón tay chai sạn chân Giao Chỉ bàn cuốc đen đúa to bè gót chai rạn nẻ tứa máu tươi ngón quặp ngón toè mồ hôi dầu ướt đẫm vai u da sần thịt bắp
chiến tranh chống ngoại xâm binh lính hai bên khác nhau tiếng nói chiến thư phiên dịch binh vận thông ngôn lính nông dân thời Lý đánh Tống thời Trần chống Nguyên Mông nghĩa quân Lam Sơn tượng binh châu Diễn châu Hoan chém Liễu Thăng xua Mộc Thạnh đuổi giặc Minh về “quý quốc” tử sĩ liệt sĩ được cúng tế hoa trái đèn hương bình đẳng ở miếu đền tôn vinh trong sử sách những người lính Việt xả thân giết giặc nhiều như cây rừng trả xong thù nhà nợ nước linh hồn siêu thoát nhẹ tênh
nội chiến người Việt thắng trận huy hoàng thảm bại cũng là người Việt Nam ! lính họ Trịnh Đàng Ngoài đánh lính họ Nguyễn Đàng Trong lính Quang Trung Nguyễn Huệ chém giết lính Nguyễn Ánh Gia Long… người nghèo đâm chém người nghèo nông dân giết nông dân đuổi được giặc ngoại bang lại cắn xé nhau huynh đệ tương tàn đất nước chìm vào nội chiến !
lính nông phu thành thạo cuốc cày vụng về súng đạn trứng chọi đá đá trơ trứng vỡ trứng của Mẹ Âu Cơ chọi nhau tan ra nước nát thành bụi thành tro tay chém đứt chân răng nghiền nát lưỡi những lính Việt bị giết được tung hô ở miền này nguyền rủa ở vùng kia ! kể từ Trịnh - Nguyễn phân tranh bao nhiêu người Việt chết vì tay người Việt ?
có những thế kỉ những thập niên những năm tháng khiến ta hãnh diện tự hào ngẩng mặt đỏ bừng ngóng mặt trời bừng đỏ ở tít tịt trên cao phấn hứng căng da nở thịt người Việt chẳng sợ ai chỉ sợ lẫn nhau và sợ chính mình
kháng chiến trường kì chiến trận liên miên - đời cha đuổi giặc chưa xong đời con đánh tiếp nhân loại cúi đầu nể phục nhưng âm thầm lo ngại đàn bà vắng chồng không chồng - con gái ai cầm súng thay người tử trận ? người Việt miền Bắc người Việt miền Nam mấy chục năm chiến tranh mỗi ngày bao nhiêu đạn bom mấy ngàn người chết chết trận chết đói chết rét chết cô đơn cô quả buồn phiền mỗi tuần trăng khuyết trăng tròn mỗi con nước dềnh nước cạn có hàng ngàn tráng đinh chết trận như lá tre trong bão bay vèo sung rụng lấp cỏ gà dạt ao bèo tấm những người thoát chết suốt đời thương cảm đêm rằm não lòng mùng một rưng rưng
lê thê dằng dặc mấy chục năm thập niên bốn mươi thập niên năm mươi thập kỉ sáu mươi thập kỉ bẩy mươi … nước mắt người Việt chảy bợt môi sạm má máu người Việt Nam tuôn nhão đất xiêu cây nẻ đá
ta vượt qua những năm tháng nặng nề bi thương ấy sự chịu đựng đáng kinh ngạc người trong cuộc cũng không ngờ đi qua chiến tranh như sa cành khế như leo rễ đa như hóc xương gà bốn ngàn năm máu người Việt chắt lọc từ cơm cà chuối xanh rau má thấp bé nhẹ cân máu trong mỗi thân xác có nhiều nhặn gì đâu người thợ cày tu cạn vẫn chưa hết khát…
may mà Cha Rồng Mẹ Tiên xót thương mười tám Vua Hùng lo ngại Tứ bất tử Thánh nhân giật mình truyền dạy con dân nước Việt biết cách kết thúc chiến tranh để còn có người trẩy Phong Châu Giỗ Tổ tháng Ba mở Hội Phủ Giầy dâng hương Đền Gióng dựng tháp Báo Thiên sửa đền Bát Đế kết đàn hoa tế Biển thả đèn lửa cầu Trời…
nhưng ta thầm đau thầm tiếc giá Cha Lạc Mẹ Âu mười tám Vua Hùng tiên liệt tiền nhân Rùa Vàng từng tặng vuốt móng chế Nỏ Thần Long Vương cho mượn kiếm báu để Lam Sơn tụ Nghĩa… giúp con cháu thần dân nước Việt tránh được những thế kỉ đau thương cứu chục triệu người Việt Nam khỏi chết ! đừng để chiến tranh xảy ra nếu nhất định phải xảy ra không bị đẩy đến tận cùng khốc liệt
nhưng với mỗi quốc gia với từng dân tộc lấy gì đo đếm để biết chiến tranh nào là nhanh hoà bình nào là chậm để biết cuộc chiến nào không thể không đối mặt cuộc chiến tranh nào có thể tránh xa cuộc chiến tranh nào vì nước cuộc chiến nào thịt nấu nồi da
chiến tranh lùi vào dĩ vãng ta tự hỏi tự trả lời những cuộc thi vấn đáp lặng lẽ trong tim trong dạ giám khảo thí sinh cũng chỉ một người đuổi chuột chạy bình hoa rạn vỡ ?… ___________________________________________________________________________________________
khúc thứ Sáu CHẲNG NỠ TRÁCH DÒNG SÔNG Trịnh - Nguyễn phân tranh sông Gianh ngót trăm năm chia đôi đất chia đôi nước hai mươi năm sông Hiền Lương hứng trọn nhát đao chặt lãnh thổ thành hai khúc miền Bắc - ngoài Bắc miền Nam - ở trong Nam !… nếu Thạch Hãn chảy qua vùng đất khác dân cư đã không dồn tụ về đây sẽ không có thị xã tỉnh lị này càng không có Cổ thành Quảng Trị đã hàng triệu năm nước chảy từ núi non gom góp nên dòng những lạch nước lẻ loi hợp lưu thành suối thành sông thuở ấy chưa có ma mút khủng long càng chưa có con người lẽ nào ta lại oán giận sông Gianh trách dòng Bến Hải kết tội Thạch Hãn cản đường tiến quân vào Thành Cổ thôi thì sông cứ chảy ngược trôi xuôi cứ trải dài mở rộng như ngàn đời vẫn thế !
ta xót xa ngậm ngùi tự hỏi sao Thành Cổ không ở cách Thạch Hãn thêm dăm bảy dặm sao xuân hè năm Một - Chín - Bảy - Hai không lặp lại điều thường vẫn xảy ra nắng nẻ đá chết cây gió nóng quạt cạn sông khô suối nước lũ từ thượng lưu không giận dữ đổ về Thạch Hãn sẽ không cuồn cuộn chảy nước ăm ắp hai bờ để sông sâu thành nông khúc nước đầy hoá cạn Thạch Hãn sông hoá Thạch Hãn cát chẳng cần lâu lắc gì chỉ tám mốt ngày thôi !… sẽ có mấy ngàn người lính không chết chìm chết ngạt chết trôi những trung đoàn chỉ cần ít phút để vượt qua sông cạn không bì bõm ngụp lặn cả đêm giữa dòng nước xiết anh ta cha ta không chết !
gần bốn chục năm sau từ mặt sông Thạch Hãn có những cầu đá nhiều bậc dẫn lên bờ từng cặp ghế nhựa ghế mây xếp dọc bờ sông kè đá dìu dặt đèn hoa Cà phê Mi Thứ Kem chè Dư Âm Quán nhạc Sông Xanh… nhang trầm toả hương ngan ngát những cặp trai gái nhỏ xuống bờ sông rót vào dòng nước những giọt cà phê đầu tiên giọt rượu đầu tiên gọi thầm người đã khuất
nghe nói đã nhiều năm Thạch Hãn chảy hiền hoà không dâng lũ cuốn đất lở bờ không dìm người chết đuối mọi tội lỗi sông cao thượng nhận về mình sám hối ? Đằng Giang tự cổ huyết do hồng năm Nhâm Tý – Bảy hai máu binh sĩ Sài Gòn máu quân giải phóng loang đỏ nước sông Thạch Hãn ướt sũng gạch vụn Cổ Thành !. ______________________________________________________
khúc thứ Bảy CHẾT TRẺ
Không được gì nữa không mất gì nữa không cần gì nữa không sợ gì nữa Người Chết nói thật hãy tin lời Người Chết !
LINH HỒN
I Những đứa trẻ nhà quê tóc thả trái đào áo nâu quần cộc ra đường cái quan túm vạt áo cha lớn ngộc còn nhay ti mẹ mẹ đi cấy sớm mẹ về chợ khuya lại bú tí bà vú bầu vú mướp đã lâu không còn mùi sữa
chúng tôi ra đời từ những vùng quê heo hút Na Hang Xích Thổ Bá Thước Con Cuông mười mấy tuổi lên tỉnh xem ô tô ham chơi đáo thích đánh khăng chọi cù quanh quẩn đồng làng chăn trâu cắt cỏ sớm học cách làm chồng làm vợ bắt cá dựng nhà mùng ba tết được cha dạy bói chân gà tháng sáu học ông nội xem rễ si búp đa tính mưa đoán nắng ngày tết chơi súng diêm pháo đất lần đầu tập bắn đạn thật giật mình nghe tiếng nổ xé tai vào lính được mặc quần mới áo lành ngày ăn những ba lần nằm ngủ trong màn đắp chăn thay chiếu những chú lính nhà quê ra trận vụng về ngờ nghệch phía quân địch lính cũng ngơ ngác y hệt chúng tôi trai quê Tháp Mười Bù Đăng Kinh Xáng… cùng trang lứa mười bảy mười chín hai mươi bộ đội nghĩa vụ quân sự chọi nhau với lính quân dịch cộng hoà như chia hai phe đá bóng trên cánh đồng mới gặt cầu thủ con nhà nghèo nghiệp dư chân đất nhiều đứa lần đầu ra “sân” vụng về lóng ngóng những trận đánh dằng dai mùa Khô sang mùa Mưa không dễ phân thắng bại có khi may mắn tàn trận lưới hai bên vẫn “sạch” nhiều khi lưới mỗi phía thủng trăm lần ngàn lần mỗi bàn thắng - thua một thằng trai gục ngã lực lượng càng chênh lệch càng sớm phân định thắng thua máu quân lính hai bên ít đổ đáng sợ là những cuộc chiến dằng dai cân sức cân tài không bên nào “nhường điểm” sứt đầu mẻ tai cáng nhau dìu nhau vào chấm mười một mét có một bên thua cả năm trái ra ngoài chỉ cần một lần bóng bật xà lăn qua vạch cầu môn một bên toàn thắng !…
không ai từ cõi sinh chìm vào cõi tử dễ như người lính nhanh như người lính nhiều như người lính đương nhiên mặc nhiên tất nhiên hồn nhiên như lính từ nòng súng người lính bên kia sang trái tim người lính bên này đạn bay chỉ mấy phần nghìn giây quả DKB rời ống phóng nổ tung căn hầm bên trại giặc chen chúc người trong nháy mắt chết nhanh đến nỗi nhiều người không hay không biết như dây điện đứt bóng đèn phụt tắt như trứng quạ từ nóc tháp chuông rơi xuống sân nhà nguyện mảnh ngói vỡ từ mái chùa Diên Hựu văng xuống mặt nước ao sen thân thể tử sĩ khoẻ mạnh căng đầy sạch sẽ thơm tho hồng hào có người to cao ngồn ngộn thịt múi da săn ván thiên bật đinh nắp quan tài bật có người máu chảy cạn thân thể như quả bóng lỗ chỗ mũi đinh lép xẹp cá kình khô lùng nhùng tấm chăn lính màu rêu vun mãi không đầy mộ
ngày nào ta chăn trâu bờ đê chơi bịt mắt trốn tìm anh ẩn vào bụi cây nấp sau mô đất tìm không thấy mắt em đỏ hoe môi em méo xệch tiếng gọi ngẹn ngào tìm thấy anh em mừng hú hơn cả tìm thấy trâu bò đi lạc chùm bom khoan rơi trúng dãy nhà hầm nửa trung đội chết trong lúc ngủ tìm các anh từ sáng đến chiều thâu đêm suốt sáng kẻ dọc vạch ngang bới từng hòn cuội sàng đất sảy cát lay cây rung cành chặn dòng suối tát bùn lọc nước mười mấy mạng người thịt xương gom chưa đầy mảnh võng táng một huyệt chưa đầy đủ mộ nỡ nào chia !
sớm muộn trước sau những người lính cũng sẽ trở về trên những toa tàu xe lăn nạng gỗ riêng chúng tôi khuất chìm trong hư vô không ai nhìn rõ chúng tôi sống bình thường rồi chết chưa xấu cũng chưa kịp tốt không thành ma qủy chẳng hoá thánh thần không phải xuống Địa ngục cóc được lên Thiên đường tụ tán trên tàn cây ngọn cỏ ẩn trong giọt sương tiêu dao trên sóng
trở về nơi mẹ cha sinh hạ nuôi ta thành người vạt rừng hoang sơ cánh đồng phóng khoáng trở về với cánh diều cuối cùng cánh võng đầu tiên ngược chiều những đoàn quân vẫn đang hăm hở rùng rùng ra trận người chết bay ra người sống đi vào gặp em trai ngủ ngồi trong công sự bạn chăn bò ôm súng tựa gốc cây nhai trệu trạo lương khô có người sống những thời khắc cuối cùng đang lặng lẽ bước vào cõi chết chỉ người cõi Âm chúng tôi mới biết
mẹ thét lạc giọng kinth hoàng nhìn ta tóc rối xoã vai thân hình trong veo xanh lè như lá cha gặp con trai trong cơn mộng mị đàn ông ít nói ta ngồi ôm chân giường khóc thầm lặng lẽ bay đi… người trong làng ngoài phố nửa tin nửa nghi thấy lảng vảng trong sương nghe lào thào trong gió thoắt gần thoắt xa khi khóc lúc cười gặp con trong mơ cha mẹ vừa mừng vừa sợ trâu già nhận ra cậu chủ chăn dắt bao năm gõ sừng dậm chân cổ nghẹn cỏ rơm cặp mắt chén tống rưng rưng nước đục khôn ngoan nghĩa tình chó Mực rên ư ử gừ gừ trong họng cụp tai sợ hãi ve vẩy đuôi mừng không nhảy lên ngửi tay liếm mặt cũng chẳng nỡ nhí nhách cắn ma
chúng tôi vô hình vô ảnh bay ngang bàn thờ, ngồi trên nóc tủ “véo” xôi gấc mẹ đồ “bẻ” phẩm oản nếp chiêm chị đóng “nhón” thịt vịt cha đơm ngồi bông bênh trên khói bếp lúc em gái nấu cơm bay lượn quanh nhà nấp sau cánh hoa lan hoa huệ đốm lửa đầu nén nhang cháy bùng di ảnh trên bàn thờ mắt long lanh ướt
chúng tôi trở về lượn lờ ở cổng đình rụt rè quanh đền miếu ma làng nguời cùng xóm chết già tổ tiên nội ngoại chỉ loáng thoáng mấy người chết trẻ đón tiếp ma mới chúng tôi mười chín hai mươi chia rượu ngô vài hơi thuốc lào dăm điếu
nghe nói sau khi chết người ta thành gió không hướng không chiều nghe nói chết rồi người ta thành cỏ cỏ mọc lan man cỏ bám vật vờ nghe nói chết đi con người thành bụi bụi bay lang thang bụi cuốn bơ vơ… vừa mới hóa thân từ kiếp người bụi lơ lửng trên cao sắp được đầu thai làm người những hạt bụi bay là ngọn cỏ ơi những hạt bụi tiền nhân tiền kiếp những hạt bụi luân hồi sắp được đầu thai
đang là bố là mẹ là vợ là chồng lại hoá gió lang thang cỏ xanh bụi hồng không còn yêu thương không còn giận dữ tiếc nuối người đi đau lòng người ở nhưng nếu còn được làm bụi làm cỏ cái chết với ta cũng nhẹ đôi phần ừ thì chết nhưng không hủy diệt dẫu là mất cũng không mất hết !
thực hư nào hay đi trên cỏ chợt thấy run chân hạt Bụi - Ai cay xót mắt mình người thợ chẳng vô tình đời trước dạy đời sau để lại khe hở cho gió lọt trên mái nhà vào ra quanh khung cửa… nuối tiếc xót đau linh hồn thét gào thành giông thành gió
XƯƠNG CỐT
Mỗi năm chúng tôi chỉ được về quê quán một lần trong Lễ Xá tội vong nhân Rằm tháng Bẩy trước gà gáy canh ba linh hồn phải rời nhà mẹ cha trở lại với cây với đá nơi ấy mồ hoang mới thực nhà mình xương cốt ở đâu linh hồn về đó mộ phần thất lạc linh hồn lang thang… xương cốt chúng tôi khỉ đầu đàn bọc lá chuối rừng thờ ở góc hang lẫn vào cát chìm trong suối hóa ụ kiến vàng, gò mối huyệt khoét bằng lưỡi xẻng cá nhân nhỏ tựa bàn tay võng dù làm vải liệm mảnh nilông buộc túm thay quan tài mấy chục năm trời rễ cây rừng hoang tham lam hút kiệt trăm người chết tìm thấy vài huyệt mộ lẫn giữa đất đỏ của rừng có chút đất xám mùn đen lẽ nào đó lại là tất cả những gì còn lại của anh ta em ta bạn ta đồng môn đồng tuế !
trận địa năm xưa lại lút giữa đại ngàn rễ cỏ tranh xuyên vào hốc mắt đá đè vỡ xương đầu dập nát xương chân cây che phủ nắng không lọt tới đồng đội chôn vội chúng tôi giữa hai trận đánh không vải liệm không hòm ván quân giặc vây chặt cánh rừng đạn xuyên trước mặt pháo cày sau lưng những Nghĩa - Địa - Hoang chìm lấp dưới rừng đồng đội ngày ấy về đâu ở đâu nhiều người đã già lắm người đã chết rừng cây đổi dạng núi đá thay hình mồ hoang đã lâu không còn dấu vết…
những người khiêng cáng thương binh trúng đạn chết dần trên đường về hậu cứ người sốt ác tính sống lâu hơn người khoẻ ! nằm mươi ngày nửa tháng trên võng vải đòn tre cái chết đến không vội vàng hiền lành dịu nhẹ khẽ khàng chết nhiều khi không hiểu tại sao chảy hết máu hay vì đói khát chết mà không biết chết lúc nào
cây rừng lớn thêm dâng võng lên cao thịt rữa nát võng dù còn bền chắc võng rung cùng cây võng chao theo gió xương đen nắng nỏ cốt trắng gội mưa... ___________________________________________________________________________________________
khúc thứ Tám CUỘC CHIẾN KHÔNG ĐỔ MÁU
NHỮNG TRẬN ĐÁNH TRONG IM LẶNG
Ngót bốn mươi năm trước khi chúng tôi còn sống khu vực này chứa được mấy ngàn quân lính của cả hai bên nay đông đúc gấp trăm lần những bộ xương khúc xương than xương chẳng cần nhiều không gian như khi con người còn sống không tốn phân vuông nào cho chúng tôi trên mặt đất không còn sống nhưng không chết nữa linh hồn bất tử không đòi phong thánh thần không cần dựng tượng đài lăng tẩm mọi danh tụng danh xưng chỉ người sống mới cần những vong linh hồn ma ở Cổ thành Quảng Trị đùa nghịch suốt ngày bay nhảy thâu đêm đã gần bốn mươi năm bốn mươi năm… bốn trăm bốn ngàn năm nữa…
ngày ấy chúng tôi vẫn còn đang lớn quen ăn cơm mẹ thổi mặc áo chị khâu mười bảy tuổi vào lính mười tám tuổi xa nhà nhiều người chưa bắn viên đạn nào về phía đối phương đã chết chưa biết lo toan chưa quen xốc vác vong linh lính trẻ - vong linh “ thất nghiệp ” ! uống sương ăn nắng hít thở hương hoa đậu trên ngọn cây nhập vào ong bướm nếu được cúng giỗ chúng tôi no đủ quanh năm không có ai hương khói ăn cháo lá đa dật bánh cô hồn ở cõi lạnh tối này những người lính chúng tôi đối sử với nhau tử tế không bận tâm khi còn sống mỗi người hướng mũi súng về đâu người chết nghĩ khác người còn sống !
hương khói của chung vàng mã của chung quân phục mặc chung súng đạn chơi chung lúc vác B.40 khi ôm M.79 thằng thích AR.15 đứa mê AK.47 dép cao su đúc giầy đinh da lộn mũ cối mũ nồi xanh… tiểu thuyết Thép đã tôi…cháy sém rách nát Thánh kinh lính Đại học Xây dựng chia động từ tiếng Nga trên giấy phong lương khô Bẩy lẻ hai lính rớt tú tài nguệch ngoạc viết từ vựng Anh ngữ khắp vỏ bao thuốc lá Quân tiếp vụ đã thành hồn thành vong vô ảnh vô hình Kinh Nhật tụng, quyết tâm thư cũng vô hình vô ảnh với chúng tôi Thành Quảng Trị mãi mãi là chiếc cối khổng lồ xay thịt Cổ Thành muôn đời sau vẫn chiến địa chiến trường “chỉ có mấy chục ngàn người tử trận ở sông Thạch Hãn ở Cổ Thành dăm ba trăm người bị đất đá lấp vùi đâu đó” hay gấp mấy chục mấy trăm lần ? bao giọng lính ba miền còn âm vang trong mạch đất gạch vụn rễ cây chẳng lẽ chỉ những người đã chết mới thấy mới hay không thể biết hay không muốn biết ?
người sống không tin nhau dễ gì tin người đã chết
BA NGƯỜI ĐÀN BÀ I Cô Mận ra đời ở vùng chè Bồng Lạng từ nhỏ đã nghe tiếng mìn phá đá rung chuyển phố núi Kiện Khê cắm trại thiếu nhi quanh chùa Bà Đanh thoả thích nô đùa trong rừng vải chín theo mẹ ngược Chi Nê bán chè khô chè tươi đến Ba Sao mua măng ngâm sắn lát dập dềnh cầu phao ngã ba sông Châu sông Đáy tháng mấy lần qua sông sang Phủ Lý họp chợ Chấn chợ Bầu cậu học trò thị xã hồi ấy chớm mười bốn tuổi lần đầu tiên trong đời được một cô gái xưng em nửa thế kỉ qua đi mỗi khi nhớ lại vẫn choáng váng ngất ngây như lần uống ngụm rượu đầu tiên
Mận đi mở đường Mận đến Trường Sơn để lại rừng xanh cả thời xuân sắc bệnh tật vàng da đục mắt da đầu trốc lở trùm khăn bốn mùa đầu không sợi tóc cứ vậy vào chùa chồng con chẳng bận không xuất gia nào khác đi tu !
vong linh Sãi Mận dạt vào Quảng Trị không được làm mẹ trên đời Trời cho làm mẹ bao người cõi Âm không làm mẹ hài nhi Mận làm Mẹ linh hồn binh sĩ lính chết trẻ ngàn năm vẫn trẻ dưới đất lạnh càng cần có mẹ
II Má Chín Mỹ Tho mười ba tuổi theo gánh cải lương trôi dạt khắp châu thổ sông Hậu sông Tiền thằng Hai con má da trắng mắt đen tính nết giống thầy đờn mặt đẹp như kép nhất trốn lính con má ngày đêm chui nhủi dưới ghe ngủ trong khoang gạo lức đậu mè kéo đờn cò sau bồn nước mắm trốn thoát dăm năm, Hai vẫn phải vô quân dịch hạ trại ở cổng Tây Thành Cổ ngày năm đêm mồng sáu quan lính đang ngủ vùi “vùi” luôn vì pháo kích “đại đội giặc bị têu diệt hoàn toàn hơn trăm tên tan xác !..” không ham về miền Cực Lạc càng không muốn đầu thai để trở lại người má Chín xin Đức Quan Âm cho về Thành Cổ xương thịt linh hồn con má chắc còn quẩn quanh đâu đó… III Thằng Bil chưa từng thấy mặt cha thần đồng toán học của bang Atlanta không bóng gậy bóng chầy không Uytski bạn gái vừa nhai hămbugơ vừa giải toán giấy nháp quăng trắng sàn nhà tìm nghiệm số thâu đêm Bil bị coi là chú lính kém cỏi nhất sư đoàn chục lần bắn bia chục lần đuổi quạ chiếc trực thăng đặc chủng chất đầy máy móc tối tân vừa rời phòng thí nghiệm Bil say mê ngắm nhìn Thành Cổ qua mắt kính “đít chai” không hiểu sức hủy diệt gì mạnh đến mức làm máy bay cháy bùng nổ như sấm sét hàng triệu mảnh kim loại thịt xương rải mặt sông Thạch Hãn bà Jên khóc con lạc giọng rạc người chết trong đêm Giáng sinh năm Bảy hai kinh hoàng ấy linh hồn bà bay là sát đầu sóng biển khômg để “rada” của thần thánh trên trời dưới trần phát hiện che mắt thổ thần thổ địa trấn giữ những vùng biên ải biên cương linh hồn bà Jên được Chúa cho “định cư” ở Cổ thành Quảng Trị
ba người đàn bà nương tựa chở che nhau vật vã ở ngọn cây khóc cười trong sương khói quanh năm nhìn bọn trẻ “đánh nhau” không thắt ruột lo âu khi con lâm trận
người sống làm chiến tranh chĩa súng vào ngực nhau không giết đối phương sẽ bị đối phương tiêu diệt chết vì bom đạn những người lính lại tiếp tục “chiến tranh” trên vạt mây nóc nhà dưới đáy sông lòng đất cuộc chiến tranh vui vẻ trong sáng tốt lành không đổ máu không rơi nước mắt cây không chết đứng cỏ không dập nát lương tâm sáng trong danh dự vẹn nguyên…
những người lính chơi trò chiến tranh không thể chết không còn gì để mất không có ai là ta không bên nào là địch mấy trăm ngàn hồn lính chỉ có vài đứa mắt xanh mũi lõ quê Látvêgát Bốtstơn lọt thỏm giữa những người lính \ nói giọng Cao Lãnh Quảng Nam Bắc Cạn… lúc còn sống lắm người hiền kẻ ác bây giờ họ ngây thơ như bê như nghé coi nhau là bè bạn anh em… ___________________________________________________________________________________________
khúc thứ Chín NGŨ CUNG
Cung Xàng BẢN ĐỒ QUÂN SỰ
Đo đạc từ trên tàu vũ trụ quan sát bằng máy bay người ta lập bản đồ quân sự trên mây hành tinh lọt thỏm trong tờ giấy cả quốc gia trải gọn trên bàn một nửa đất nước nằm trong “bảng tính sẵn” của sĩ quan pháo binh trong xà cột trợ lý tham mưu chỉ huy tác chiến nét bút ở bản đồ lớn hơn những chiến hào trên thực địa dấu thập ác đánh dấu - cắm sẵn - trên những bãi ém quân nơi có hàng chục ngàn trăm ngàn binh sĩ dòng suối ấy từ lâu cháy khô hoá đá trên bản đồ quân sự vẫn nét mực tươi xanh quả đồi kia bom san thành bình địa những con số chỉ diện tích độ cao vẫn cứ yên lành bản đồ quân sự vẽ chi li đến từng giếng nước những đạo quân nhọn hoắt mũi tên
bom rải thảm theo tọa độ trên bản đồ quân sự quân lính tiến đánh bất ngờ theo bản đồ quânsự tướng tá dí ngón tay dáng nắm đấm chọc đầu gậy xoáy mũi dao găm rách bản đồ quân sự những mệnh lệnh quyết định sự sống chết của cả ngàn người trên giấy lệch một ly ngoài chiến trường phải lấp kín bằng bao mạng lính trước khi quân sĩ hai bên đổ máu tướng lĩnh đổ mực trên bản đồ nhỏ mồ hôi trên bản đồ giết nhau trên giấy.
Cung Xê NHĨA ĐỊA KHÔNG MỒ
I Mua mớ cá lẹp bán mủng khoai lang mẹ ta chị ta bần thần đắn đo mặc cả trả giá thêm bớt từng xu không chịu mua đắt chẳng nỡ bán cao… II Người nước ngoài gọi thị xã Quảng Trị là Bãi tha ma không có mộ bia là Nghĩa địa ngầm nhà sư thắp hương lẩm nhẩm khấn những người nằm dưới Nấm mồ Chung khổng lồ vô định có bao điều còn chìm nghỉm trong thẳm sâu bí mật
sự thật dù không được thừa nhận vẫn cứ là sự thật đất ở Cổ Thành nặng nhất hành tinh mặn nhất hành tinh màu mỡ nhất hành tinh óng mượt cỏ xanh xanh đến đáng ngờ cây gì mọc nơi đây cũng lớn nhanh vùn vụt mẫu đơn đỏ rực đỏ quặn gan thắt ruột tôm nuôi sạch ao mía trồng dịu đất hiếm người xin chẳng mấy ai ăn những sinh viên đại học mười tám hai mươi tay chân đang dài thịt xươg còn lớn khi chết thân không vẩy rượu xác không lèn lá thuốc chè khô không sô trắng trùm đầu không vải dày khâm liệm huyệt mộ rải khắp rừng chôn “chay” không hòm ván ngót bốn mươi năm mưa dầm nắng hạn còn gì nữa đâu !
cuốc bổ xẻng xúc mai đào tìm được xương người này xương người kia nát vụn chỉ có những mái tóc non tơ đen nhánh không thể mục nát không bao giờ bạc vướng rễ cây quấn lưỡi xẻng đau nhức mắt nhìn linh hồn quẩn quanh không thể bỏ đi xương cốt chưa gặp Người Tìm hồn phách còn thất lạc không đầu thai không thể luân hồi nhà cửa sẽ mọc lên thành phố thành làng tiệm rượu vũ trường sân gôn phòng cưới sẽ chẳng ai biết có di cốt di hài lấp vùi phía dưới liệt sĩ tử sĩ trai phố măng tơ trai làng mới lớn chưa kịp yêu chưa thất tình phiền muộn linh hồn thiên sứ thể xác thiên thần…
không thể biết làm sao tránh được phòng ngủ xây phía trên giường cưới đặt ở trên !...
Cung Cống RĂU RĂM
Đàn ông đàn bà đủ vợ đủ chồng đang thì vừa độ rau răm thơm bùi đến mấy cũng đành kiêng cữ búp ổi lá gừng trộn dồi lợn tiết canh không nêm rau răm canh hến nhạt mùi cháo lươn đoảng vị thím tôi góa bụa dì tôi vắng chồng lại coi rau răm là bạn bầu tri kỉ xiêu vẹo chùa làng cối đá lỗ nén ngập vại cà chum tương úp rổ tựa gốc cau hong nắng vạt rau răm xanh um thẻo đất khuất sau nhà…
ngày chồng còn sống từ mặt trận trở về nhiều người vợ lăn trên luống rau khóc nức nở lại cười khành khạch đào bật gốc loài rau tình nghĩa - hãy lặn xuống vực hãy bay lên trời đừng ở lại chịu cay đắng nữa ! bao người đàn bà có chồng chết trận không thể đoạn tuyệt với thứ rau này ăn ghém rau răm đến lúc mãn kinh lòng lạnh giá không ham muốn nữa sau chiến tranh cơm dần no áo dần lành những người vợ góa đang thì càng khát thèm ân ái thân thể quanh năm chay tịnh săm săm vào chùa xụp lạy Quan Âm nửa đêm xõa tóc ra miếu Thổ Thần không như người có chồng nặng hơi hướng đàn ông nấu nước lá thơm tắm gội kĩ càng trước khi vào miếu cúng thần lên chùa lễ Phật sau chiến tranh đàn ông càng khan càng đắt đàn ông được quyền chọn lựa đàn ông phần thưởng của thiếu nữ giải thưởng của đàn bà nhiều người phụ nữ chùng chình đi sớm về khuya tha thẩn đường thưa bãi vắng ra đồng tát nước nhổ cỏ giữa đêm khép cửa hờ khi ngủ… những người đàn bà không như Thị Nở vẫn ao ước gặp Chí Phèo 50% đàn bà goá chồng nhiều hơn thế phụ nữ không được làm cô dâu ít hơn thế những người bạc tóc vẫn còn là Trinh Nữ !... (Ghi chú: 5 dòng này theo như bản gốc, chưa biên tập. Dùng kí hiệu toán học 50% để tăng sự lạnh lùng khốc liệt) đắng lưỡi xót lòng che mưa dập lửa mắt lá răm đa tình mấy thời đẫm lệ một đời chưa khô…
Cung Líu KHÚC NGÂM CỦA NGƯỜI MẸ CÓ CON TỬ TRẬN
Con thơ dại đá dầy chân mỏng sài đẹn đêm sốt nóng ban ngày chàm mặt mũi ghẻ chân tay thương con mưa lạnh nắng say gầy gò
sáu bảy tuổi chăn bò lùa vịt vài năm sau xúc tép giăng câu mười lăm tuổi đã theo trâu dầm chân ruộng cạn đồng sâu cày bừa…
đất cằn cỗi mới mưa đã ngập nắng nẻ đồng lúa thấp cỏ cao được mùa ngan ngỗng phổng phao mất mùa đói kém vêu vao cả làng chân con dẫm mảnh gang lọ vỡ tay xóc vào thớ gỗ dằm tre đứt tay róc mía gọt me lạc kim vụng kéo đỏ nhoè máu loang
bà quýnh quáng thắp nhang khấn vái mẹ dứt bông cắn vải xé khăn xuýt xoa chị buộc em chằng chân tay đâu phải tre măng ngoài đường
suốt mấy bữa ông thương bà xót đau tay con mà buốt lòng cha gai đâm dao cứa thịt da máu là máu máu không là nước ao
nào chỉ có gai cào dao gọt đâu phải là mấy giọt máu rơi con tôi con của bao người bom xé ngực đạn tiện rời chân tay
máu đọng vũng đầm cây đẫm cỏ máu tuôn trào sũng đỏ bông băng chưa thành tre mới qua măng lưỡi hái Thần Chết xén phăng một đời…
vết thương ấy nhiều người qua khỏi - ba bốn mươi cứng cỏi đàn ông - đã từng dày dạn tây đông - đã từng vượt núi băng sông trải đời…
con ta con bao người mẹ khác mới ra ràng ngác ngác ngây ngây đớn đau xám ngoét mặt mày làm sao chịu nỗi đau này con đi…
đất màu mỡ xanh rì cây trái lim sến hay cỏ dại khác chi lá non gió dữ cuốn đi lá già run rẩy còn gì rừng xanh !…
Cung Hồ TẠ ƠN
Đói quay quắt cả đơn vị không ai ngủ được nửa đêm anh bị trung đội trưởng bợp tai bắt ra nương nhổ trộm khoai loạt bom tấn trùm lên trận địa hai mươi tư người không toàn thi thể đốt cành khô thay nhang anh luộc khoai mì làm đồ cúng lễ giá mà mọi người trong đơn vị đều cùng anh ra nương !
người trước ngã người sau ngã đồng đội bên phải gục xuống bên trái gục xuống cả tiểu đội trúng đạn thân vắt thành cầu chỉ anh tôi may mắn vượt qua lưới lửa xe tăng địch trúng đạn lao xuống khe sâu
thằng lính Mỹ ngờ nghệch trẻ măng đường ngắm lệch nửa li viên đạn khoan thủng vành tai anh tôi trẻ măng ngờ nghệch… hơn ba chục năm sách anh viết cao ngang nòng súng chục ngàn trang tiểu thuyết thơ ngót vạn câu…
tạ ơn đồng đội che bom chắn đạn ! tạ ơn người trung đội trưởng nóng tính nửa đêm bắt anh ra nương nhổ trộm khoai mì ! ơi cái thằng lính Mỹ “gà công nghiệp ” bắn anh tao thủng vành tai ! cầu mong suốt đời mày đừng giết ai cũng đừng bị giết ! (HẾT) _________________________________ Nhà Sáng tác Đại Lải, tháng 11- 2007, Nhà Sáng tác Vũng Tàu, tháng 11- 2008, Sài Gòn, ngày 10 tháng 12 – 2008.
|