Hà Nội ngày nay gồm 4 phần đất : Một là thành THĂNG LONG đời Lý và đời Trần .Đó là khoảng đất ,bắc từ phường Thụy Khuê ,nam đến trại Giảng Vũ ,đông là vườn Bách Thảo ,tây là Cầu Giấy . Hai là ĐÔNG KINH đời Lê ,ở phía đông thành Thăng Long cũ ,gồm tòa thành phố Phường từ Yên Phụ ,Yên Ninh ,đông đến sông Hồng ,nam đến phố Hàng Kèn (đường Quang Trung ). Bắc thành của đời Nguyễn cũng vẫn như thế . Nhưng từ khi thực dân Pháp đến nó đuổi những làng ở phía đông và phía nam hồ Gươm ,làm thành khu “phố Tây”. Thứ ba là khu vực hồ Tây ,trong đó xen lẫn vết tích các triều đại … Thứ tư là khoảng rộng bao la ,đang xây dựng trước mắt chúng ta ,thủ đô nước Việt Nam XHCN, bao lấy các khu Lý ,Trần, Lê ,Nguyễn ,vươn đến sông Nhuệ , vượt sông Hồng , đến sông Đuống ,mở rộng phía nam đến bến Thúy Áí ,bãi Tự Nhiên .Khác nào một bông hoa to lớn , các phố phường cũ là phấn ,là nhị ,nguồn nước mật là hồ Tây . Từ đầu thế kỷ thứ nhất ,cách đây gần 2000 năm rồi ,đất Long Đỗ đã là một chiến trường .Tướng già của Đông Hán là Mã Viện ,lúc ấy đem quân sang chiếm lại nước ta .Bà Trưng dàn quân ở bên hồ Lãng Bạc ,là hồ Tây bây giờ .Hồi đó chưa có đê ,chưa có đường thanh niên mà trước đây gọi là đường Cổ Ngư ,Mã Viện kể rằng :” Sớm ngày ,thấy một khoảng muôn tầm sóng bạc ,sương tỏa mịt mù ,con phi diên bay là là trên mặt nước , rợn cả người “ .Trận ấy ,bà Trưng đem một đạo quan hăng hái ,nhưng luyên tập chưa đủ ,mà đánh vỗ mặt một độ quân đã dày dạn mười năm trên chiến trường Tây vực ,nên kém sức phải rút về giữ Cẩm Khê . Trứơc thời bà Trưng một ít ,gần bờ hồ Lãng Bạc ,cũng đã có người cao lớn hào hung tên là Lý Ông Trọng . Bên Trung Quốc đắp trường thành để trấn phía Bắc ,nhà Tần dùng Ông Trọng giữ thành ,làm cho các bộ lạc Hung nô khiếp sợ ,không dám vào cướp . Sau Ông Trọng về thăm quê không sang nữa , thì Trường thành cứ bị đánh phá luôn . Vua Tần phải sai đúc tượng Ông Trọng ,đặt ngoài cửa Tư mã ,trong bụng tượng có người để làm cử động chân tay. Người Hung nô nhìn thấy ,kiềng không dám đến nữa . Đền thờ Lý Ông Trọng ở lang Chèm . Khoảng Đời Đường ,quân xâm lược sau khi đã củng cố ở miền Thuận Thành ,rồi núi Bát Vạn (có 8 vạn cái tháp dất nung ) và núi Long Khám bên Bắc Ninh ,tiến sang bên này sông Hồng ,để hòng nắm chặt cả miền Nam ta .Bọn này tin về phong thủy ,xem Long đỗ động, thấy đất có hình 9 con rồng vờn một hòn châu , cho là quý địa . Muốn làm cho nền đô hộ của chúng được lâu bền ,chúng tìm,,” huyệt “chỗ mắt con rồng to nhất rồi đổ nhiều kim và mồ hóng xuống làm bùa yểm ,để cho rồng ta,”mù mắt “,dân ta không còn nổi lên được nữa . Đó là cái ao chùa Một Cột , sau này vua Lý làm ở đó ngôi chùa hình hoa sen . Trấn yểm xong , bọn đô hộ mới đắp thành Đại La “vòng vèo ngàn trượng ”, lập phủ đô hộ để thống trị cả nước . Con rồng không biết có mù hay không .Nhưng không bao lâu ,một đoàn dũng sỹ xứ Đoài ,tức là Sơn Tây do Bố Cái Đại Vương chỉ huy táo tợn , bất thình lình vây hãm phủ đô hộ , làm cho quan đô hộ gỡ không ra ,lo quá ,chết ngóm . Sau đó ,khi ông Bố Cái mất ,thì chôn ở phía tây phủ đô hộ . Mả ấy bây giờ vẫn còn ,ở làng Kim Mã ,chỗ đầu đường Đại La .Lấy vị trí cái mả này mà suy thì có lẽ phủ đô hộ của nhà Đường ở vào khoảng Bích Câu và Văn Miếu bây giờ ..La Thành đời nhà Đường đắp vòng 1982 trượng . Mỗi trượng 10 thước . Thước Trung Quốc trước kia còn ngắn hơn thước ta . Vậy thì chỉ độ 7 hay 8 cây số . Sau này Lê ,Mạc đắp thêm ba bốn lần. Hiện giờ thành đất quanh Hà Nội đến 30 cây số . Khó mà thấy rõ ai đắp khúc nào …
Thành Nhà Lý Khi Lý Thái Tổ lên ngôi ở Trương Yên, Ông thấy quy mô chỗ ấy chật hẹp, bàn với mọi người: ”Các vua trước cứ quanh quẩn ở quê nhà, thế là không nhìn xa(1)”. Vốn là một đứa bé không cha ở miền Từ Sơn, khi về thăm quê, qua miền hồ Lãng Bạc với sông Hồng, ông thấy địa thế rộng rãi, dân đông lại ở giữa cánh đồng phì nhiêu của đất nước, mới có ý đóng kinh đô ở đó. Lúc đấy tháng 7 năm Canh Tuât, năm đấu Thuân Thiên tức năm 1010 Tục truyền rằng khi vua Lý đến nơi có con rồng vàng hiên lên trên sông, rồi bay lên trời…Vua Lý cho là điềm lành nên đặt tên Kinh Đô mới là Thành Thăng Long và sau này gọi tắt là Long thành… Đất Thăng Long, phía Đông có sông Nhị, tức là sông Hồng rồi, nhưng sau sông lại cả một vòng hồ và đầm. Phía Bắc có Hồ Tây, lúc đấy còn liền với cả Hồ Trúc Bạch nối luôn đến Hồ Cổ Ngựa, chỗ trợ Đồng Xuân bây giờ. Rồi đến Hồ Hàng Đào, thông với Hồ Hoàn Kiếm bằng một con ngòi, trên bắc cái cầu gỗ, chính chỗ Phố Cầu Gỗ ngày nay. Hồ Hoàn Kiếm lại có ngòi thông ra Sông Cái và Hồ Thủy Quân. Phía Nam lại có Đầm Sét, rồi có con Sông Kim Ngưu đi đến tân Voi Phục. Lại còn Sông Tô Lịch, từ Sông Nhị chẩy vào, theo đường Nguyễn Siêu đến Công Chéo Hàng Lược mem Phố Phan Đình Phùng, đến làng Hồ Khẩu, thông với Hồ Tây, đến làng Bưởi gặp con Sông Thiêm Phù từ phía Xuân Tảo chẩy xuống, rồi chuyển sang phía Nam. Bao nhiêu hồ, ao, sông đầm như vậy, mà Hồ Tây lại thông với Sông Cái, lại chưa có đê nên mùa hè lắm mưa nứơc tràn tắng xóa, bao lấy một khu vực nổi lên nhiều gò đống. Có nước làm hàng rào, có gò làm chỗ dựa. Thời bấy giờ Thăng Long thấy đã là một nơi hiểm tuấn… * * * Sử chép rằng: Lý Thái Tổ xây dựng Điện Càng Nguyên ở giữa, để là chỗ làm các lễ của triều đình. Bên phải và bên trái là hai Điên Tập Hiền và Giảng Võ. Các Điên đều có bậc rồng. Phía sau có Cung Ngênh Xuân. Với hai Điện Long An và Long Thụy là chỗ vua ở. Lại còn hai cung là chỗ ở của các phi, tần tức là các vợ vua. Khu vực Cung Điện này có ba cửa, cửa Phi Long để sang Cung Ngênh Xuân, Cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn, để ra phía ngoài. Cũng bắt đầu xây thành và các kho tàng. Thành có bốn cửa, Đông là cửa Tường Phù, Tây là cửa Quảng Phúc, cửa phía Nam là Đại Hưng, cửa phía Bắc gọi là Diên Đức. Bên bờ sông xây Điện Hàm Quang để hàng năm xem bơi chải. Thái tổ sinh ra ở chùa, lúc nhỏ lại học thầy chùa, nên ông làm khá nhiều chùa. Các chùa long Hưng, Thánh Thọ, Thiền Quang, Thiên Đức. Vua hay đến nghe kinh ở chùa Chân Giáo là nơi sau này ở đó vua cuối cùng của nhà Lý thắt cổ chết. Suốt trong thành có những kênh đào ngang dọc. Cho đến bây giờ cũng còn những kênh quang khu vực cung vua. Thời bấy giờ đường cái chắc chắn là còn ít, sông hồ lại đều thông nhau, năm nào cũng lụt lội, chắc chắn phương tiện giao thông chính trong thành là thuyền. Ngoài thành phía Bắc mem hồ Tây có đên 61 phường, Như các phưòng Hồ Khẩu, Bái Ân, Thanh Lâu, Thụy Khuê…Có lẽ đây mới là nơi tâp trung dân cư làm ăn. Bấy giờ nhiều nhà ở các phường, các trại, tường còn xây bằng gạch vồ cũ…Ở trong các con kênh thỉnh thoảng lại mò được những cột và dầm khá to, bằng gỗ rắn, có trạm trổ. Vật liệu xây dưng có lẽ cũng không phải tìm xa. Vì quang Thăng Long có nhiều rừng. Ngay cách đây 50 năm bên kia sông cũng còn nhiều rừng, rừng sặt ( làng Trang Liệt) rừng báng ( làng Đình Bảng) rừng làng Xuân Quan. Hiện nay rừng Sặt vẫn còn lơ thơ những cây lim, cây sếm, cây táu, là loại gỗ tứ thiết. Con Thái Tổ là Thái Tông tổ trức 10 vệ quân để giữ thành, lấy điên Quảng Võ làm chỗ xét án, đúc chuông treo ngoài cửa, nói là dân có ai oan ức có thể đánh chuông để đòi sử sét được. Lại đắc đàn Xã Tắc làm chỗ tế trời đất. Năm 1049 dưng chùa Diên Hựu tức là chùa Một Cột, để ghi một giấc mộng (vua theo Phật lên tòa sen). Có người lại nói là Vua mộng thấy Phật cho hoa sen rồi sinh ra Hoàng Tử. Đời Thánh Tông , là lúc ta không dùng tên nước là Đại Cồ Việt nữa , mà bắt đầu gọi là Đại Việt, thì năm 1056 xây ngọn tháp Báo Thiên cao 12 tầng , trừng ở chỗ xau đền Đông Hương phố Hàng Trống, chỗ này trước đây gọi là thôn Báo Thiên, đúc chuông đồng 120 tạ, lại làm hành cung ở hồ Dâm Đàm tức Hồ Tây. Hành cung này đặt tên là Thúy Hoa cung, hiện nay là Chùa Trấn Quốc, trên chiếc bán đảo liền vào đường Thanh niên. Năm 1070 mới xây Văn Miếu mở Trường Thái Học. Đời Nhân Tông đúc quả chuông khổng lồ, sau này gọi là Quy - Điền trung, tức là chuông ruộng rùa. Thấy nói quả chuông này to lắm, nhưng đánh không kêu, nên bỏ ở thuở ruộng gần chùa Một Cột. Lâu ngày gần chuông sinh ra lúc nhúc vô số rùa. Chuông ruộng rùa, trước kia được coi là một trong bốn thứ của quý của Việt Nam. Bốn thứ ấy là: Tháp Báo Thiên, Vạc Phổ Minh ( Cái đỉnh chùa phổ minh), chuông ruông rùa, tượng Phật chùa Quỳnh Lâm ( Đông Triều ). Sau này lúc quân Minh bị ta vây ở Hà Nội, nó phá quả chuông to ấy để đúc sung. Năm 1108 đắp đê Cơ Xá, là con đê thứ nhất ở nước ta. Đê này men Sông Hồng phía đông Hà Nội. Sử chép năm 1126 có một cuộc đánh cầu ở trước Điện Thiên An. Chừng cũng là bọn Vương hầu đánh thôi. Năm 1170 đời Anh Tông, bắt đầu có cuộc tập cưỡi ngựa bắn cung cánh đất rộng phiá nam thanh chỗ trại Giảng Võ… (1) Đinh Tiên Hoàng đóng đô ở Trường yên, Ninh Bình. Thường nói đó là đỗng Hoa Lư, quê ông Nhưng thật ra quê Vua Điinh lại ở Đại Hữu cách Trường yên độ 5 cây số. Phía đông bắc sông Hoàng Long. Đỗng hay Động là tên làng cổ của ta. Ví dụ Hà Nội xưa gọi là động Long Đỗ. Rút trong tác phẩm “Thăng Long Đông Đô Hà Nội – Hoàng Đạo Thúy - NXB Hà Nội - 1971”
Tài liệu này do Chu Thi Linh Quang cung cấp 0433831483 0979058375
|